+ Trả lời Chủ đề
Trang 1 của 4 1 2 3 ... CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 40

Chủ đề: vì cuộc đời còn có họ

  1. #1
    Dạn dày sương gió vntruongson's Avatar
    Ngày tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    570
    Post Thanks / Like

    vì cuộc đời còn có họ

    Những người bình thường, hàng ngày cẫn mẫn làm những công việc tuồng như rất đỗi bình thường để mưu sinh, nhưng cuộc sống này không thể thiếu những con người bình thường ấy với những công việc tưởng như bình thường kia. Vì trong công việc bình thường, những con người bình thường họ làm được những điều phi thường. Vì cuộc đời còn có họ nên còn có nhiều thứ tốt đẹp. Họ là ...
    Lần sửa cuối bởi nhhoang, ngày 06-01-2012 lúc 08:51 AM.

  2. Thanks buinancy, smiletoday_1412 thanked for this post
    Likes buinancy, smiletoday_1412, meobeo liked this post
  3. #2
    Dạn dày sương gió vntruongson's Avatar
    Ngày tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    570
    Post Thanks / Like

    Xe ôm nghĩa hiệp

    Họ chạy xe ôm để mưu sinh nhưng lại chuyên giúp đỡ người khác nên được dân xứ vàng Phước Sơn (Quảng Nam) gọi là những xe ôm nghĩa hiệp.

    Cuối đông, từng đợt mưa lạnh kéo dài làm vùng đất giáp ranh Tây nguyên thêm u ám. Đường băng của sân bay Khâm Đức (trị trấn Khâm Đức, H.Phước Sơn) đã bỏ hoang chi chít những vết xích in hằn trong sình lầy. Thi thoảng, những con cu đất lại giật mình bay thục mạng bởi tiếng động. Bên dưới lòng suối, một chiếc Minks với tiếng nổ đanh tai, xì khói trắng lao thẳng ra hướng phi trường... Một phu vàng vừa được chở xuống thị trấn để chuẩn bị về quê ăn tết.

    Click image for larger version

Name:	ImageView.aspx.jpg
Views:	41
Size:	61.5 KB
ID:	2550
    Tài xế chạy xe mùa mưa ở Phước Sơn là những tay lái ngoại hạng trên những tuyến đường nhiều trắc trở - Ảnh: T. Vũ


    Nghề nguy hiểm


    Ngã ba cuối đường Đinh Tiên Hoàng (thị trấn Khâm Đức) lúc nào cũng có gần 20 xe thồ đứng đợi khách. Vào những ngày giáp tết này, lượng xe thồ trực chiến ngày một đông bởi thị trấn “vàng” này bắt đầu rộn ràng khi cánh lái buôn lẫn các phu vàng bắt đầu về quê sau một năm lặn lội rừng sâu.



    Nhớ công Hùng “xích”



    Với cánh xe thồ ở Phước Sơn, Hùng “xích” là cái tên thân thương với họ. Chính Hùng “xích” là người đã làm nên một cuộc “cách mạng” trong nghề xe thồ ở các bãi vàng khi anh đã nghĩ ra cách bọc thêm xích vào bánh xe sau để chống trơn trượt, tăng năng lực trèo rừng.
    “Thằng Hùng là dân Lâm Đồng, nó qua đây truyền nghề một thời gian rồi đi biệt tích. Nghe đâu năm ngoái nó mất rồi, vậy mà anh em tụi tui không kịp thắp cho nó một cây hương, nghĩ ra cũng tệ thiệt. Không có thằng Hùng “xích” thì nghề xe thồ này chắc đã dẹp từ lâu rồi” - ông Đế ngậm ngùi bảo. Từ ngày Hùng “xích” đi biệt, các tiệm sửa xe ở thị trấm Khâm Đức bắt đầu học nghề đi gom xích máy cũ từ TP.HCM, Đà Nẵng... về “độ” lại thành xích cho bánh xe. Từ đó, những chiếc xe máy tiến sâu hơn vào các bãi bờ, các con dốc trơn trượt và vượt qua cả các cánh đồng lầy lội.




    Không ai chen lấn cũng chẳng ai giành giật khách, tự thân đội xe thồ đã sắp xếp mọi việc rất ổn định và trong cái trật tự ấy cũng có phần rất lạnh lùng. Vóc dáng nhỏ thó nhất nhóm, Vũ “ròm” nhẹ nhàng bước đến hỏi khách: “Anh về bãi nào, em chở?”. Dẫu chưa đến phiên chạy nhưng vì đang kẹt tiền nộp học phí cho con nên anh em trong nhóm đồng ý để Vũ chạy trước một chuyến. Mùa mưa, đường trơn trượt nên giá đi bãi cũng khác nhau tùy độ xa gần. Những bãi gần như Trà Văn, Phước Kim giá 1,5 triệu đồng, bãi xa hơn như Phước Chánh, Phước Thành, Phước Lộc... có khi hơn 2 triệu đồng chưa kể lượt về.


    Vũ “ròm” lắc đầu chỉ: “Mưa cả tháng nên giờ đường trơn như bôi mỡ... phải cứng như tôi mới dám chạy mùa này!”. Kéo ống quần lên khỏi gối, Vũ chỉ hàng loạt vết thâm tím từ gót đến đùi, dấu tích của những chuyến vượt núi tuần trước còn để lại. Có ngót nghét 20 năm làm nghề xe thồ ở khắp các bãi vàng Phước Sơn, không cánh rừng nào thiếu dấu chân anh. Những vết thương mới cũ đè lên nhau là hành trình của những ngày cưỡi xe Minsk vượt núi. “Khi đã nhận tiền của khách rồi thì họ chỉ việc ngồi trên xe, có khó mấy cũng ráng mà chống chọi để đi nên đường càng xấu, đèo càng cao càng vất vả, nhất là mùa mưa lũ”.


    Nếu tính từ trung tâm thị trấn đến bãi vàng xa nhất cũng chỉ chừng 60 cây số đường rừng, nhưng mùa mưa một tay lái “xịn” nhất cũng phải mất 24 giờ mới đưa khách đến nơi an toàn. Có những vỉa đá nằm trên cung đường đèo sau nhiều năm bị xích của lốp xe thồ “mài giũa” đã tạo nên những rãnh đường chênh vênh khi một bên là núi cao, một bên là vực sâu. Vũ kể: “Mùa mưa năm ngoái, khi cây cầu Nước Vin chưa hoàn thành, khoảng sông rộng hơn 20m này chỉ có duy nhất một chiếc cầu phao gập ghềnh. Người đi bộ cũng run sợ, vậy mà hàng trăm chuyến xe thồ nặng trĩu đều đặn qua lại mỗi ngày. Những hôm chở thi thể, buộc dây thừng cho thi thể ôm thẳng vào lưng mình, nếu lỡ qua cầu mà lật xe rơi xuống suối thì đồng nghĩa cả người sống lẫn người chết cùng nằm một chỗ”.


    Những khi như thế, có lúc cả ngày chưa đi hết 5km đường. Còn những chuyện như thủng ruột hay đứt xích là chuyện bình thường bởi trong xe có đủ đồ nghề và mỗi “cuarơ” là một thợ máy chuyên nghiệp..., thậm chí gặp khi xe thủng ruột mà hết đồ thay thì lấy lá nhét đầy vào lốp rồi cứ thế túc tắc mà đi. “Nhưng để xe chạy được ở rừng này, tất cả đều phải “độ” lại. Nhông máy thì giảm từ 16 răng còn 10 răng, nhưng tăng số răng của dĩa từ 36 lên 42 thì xe mới cày được. Khi đó vòng tua chậm nhưng xe rất mạnh mới vượt được lầy và leo dốc” - Vũ tiết lộ bí quyết.


    Nghĩa hiệp giữa rừng xanh


    Ngồi phân khách cho từng “cuarơ” nơi góc khuất của quán cà phê cóc bên chợ Khâm Đức, người đàn ông tuổi ngoài 40, khoác áo rằn ri, mắt sáng lồ lộ, ria mép đậm che khuất môi, kéo chúng tôi nói khẽ: “Các anh đi giúp nó đi. Nó đang kẹt...”. Nói vội rồi ông ta lúi cúi gọi xe, hẹn khách, ghi chép... Hầu hết cánh xe thồ Phước Sơn đều tôn vinh người đàn ông này như thủ lĩnh của họ, bởi không những vì tài nghệ lái xe mà còn là cả một cách sống hào sảng đậm nghĩa tình. Anh em đội xe quen gọi ông là Đế, chuyện xe thồ, chuyện rừng núi, chuyện sập hầm chết chóc... hay những cuộc thanh trừng đẫm máu nơi xứ vàng của hàng chục năm về trước được ông Đế kể rành rọt như người trong cuộc.


    Chỉ chiếc xe Minsk rệu rã dựng trước quán, ông Đế bảo: “Nó từng chở gần 20 thi thể trong cuộc đời xe thồ của tui đó. Họ đã xấu số, để họ nằm lại rừng nhìn sao đành”. Ông Đế kể có lần ông nghe tin có một người đi “tọ mọ” (đi mót quặng vàng) sập hầm vàng chết không có thân nhân, đang bỏ nằm giữa rừng..., tờ mờ sáng ông choàng dậy phi xe thẳng vào rừng.


    “Đó là một thanh niên Huế, nặng đâu chừng 80kg, chết co ro. Tui mua can rượu 20 lít đem theo vào phun, tẩm, bóp... uốn nắn thân hình người thanh niên trên giống y như tư thế một người còn sống ngồi sau lưng xe rồi lấy dây thun cột chặt vào thắt lưng mình, tay thì quàng vào cổ rồi trùm thêm cái mền (chăn) từ đầu đến chân, cứ thế chạy một mạch từ rừng đến sân bay Khâm Đức. Rồi lại mua rượu phun tiếp lần nữa để “bẻ” thẳng chân tay trở lại y như ban đầu để họ đưa về Huế chôn cất”. Kể rồi ông Đế bảo có những chuyến xe hư giữa rừng, đành phải nằm co ro bên thi thể chờ trời sáng... sửa xe để đi tiếp.


    Xót cho những phận người nằm xuống giữa rừng hoang lạnh lẽo, hằng năm cứ đến ngày 16 tháng chạp, đội quân xe thồ Khâm Đức lại tổ chức quyên góp tiền để mua sơn, hương đèn và bánh trái vào thắp hương và sơn quét lại những ngôi mộ hoang vô chủ giữa đường rừng. “Cánh xe thồ chúng tôi là những người gần gũi với các nấm mồ hoang của các phu vàng nhất. Bởi ngày nào cũng chạy qua chỗ họ nằm. Nếu rảnh rỗi thì ngày 16 tháng chạp tới, mấy chú lên đây đi một vòng thăm các mộ hoang cùng đội xe thồ rừng núi này” - ông Đế nói vội rồi đi gom tiền ghi sổ chờ ngày tổ chức quét mộ cuối năm.


    TẤN VŨ - ĐĂNG NAM

    (báo Tuổi Trẻ)
    Lần sửa cuối bởi vntruongson, ngày 06-01-2012 lúc 09:48 AM.

  4. Thanks buinancy, smiletoday_1412, chuotbeo, obaasan thanked for this post
    Likes buinancy, meobeo, matbiec, obaasan liked this post
  5. #3
    Dạn dày sương gió vntruongson's Avatar
    Ngày tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    570
    Post Thanks / Like

    Cần chi máu mủ ruột rà ...

    Đôi chân già nua run run xỏ vào đôi dép nhựa đã mòn vẹt, bà cụ Thía bưng bát cháo đến bên chiếc giường xiêu vẹo cất tiếng gọi khàn đục: “Nước sâm Liên Xô, ngọt như đường, chú uống vô sống đến trăm tuổi chứ chơi”. Ông cụ co ro trong cái rét đầu mùa vẫn nằm không nhúc nhích gì. Đã 20 năm nay, bà Trần Thị Thía (82 tuổi) luôn tìm cách “dỗ ngọt” người em chồng già yếu bệnh tật của mình, ông Nguyễn Huy Trân (79 tuổi), ăn cháo bằng cách đó.

    Click image for larger version

Name:	ImageView.aspx.jpg
Views:	44
Size:	146.8 KB
ID:	2540
    Đã 20 năm nay, bà cụ Thía một mình nuôi em chồng - Ảnh: NGỌC NGA


    Ở thôn 2 (Cẩm Quang, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh) này, nhiều người vẫn tự hỏi không hiểu tại sao chị dâu lại có thể tảo tần, chịu khó nuôi em chồng bao nhiêu năm như vậy. Bà cụ Thía phẩy bàn tay nhăn nheo: “Cần chi máu mủ ruột rà, em chồng cũng là em mình mà”.


    Căn nhà nhỏ của bà cụ Thía chỉ đủ kê hai chiếc giường. Giường chị manh chiếu cũ đã rách bươm. Bên kia bức vách, giường em sang hơn chút có thêm tấm đệm đã cũ. Bốn bên được chị lượm những bao ximăng giặt sạch rồi quây thật kín để tránh những cơn gió lạnh lùa vào. Mấy chục năm một mình nuôi em chồng bệnh tật, cụ Thía vẫn luôn dành thứ tốt hơn cho em.


    Năm 17 tuổi, bà Thía về làm vợ ông Nguyễn Huy Sâm. Hai vợ chồng cất ngôi nhà tranh ở riêng rồi đón cậu em Nguyễn Huy Trân bị bệnh động kinh về nuôi vì bố mẹ chồng đã già yếu. Lần lượt bảy đứa con ra đời. Vợ chồng bà làm đủ nghề nuôi con và nuôi em. Rau cháo bữa đói bữa no. Các con ông bà dần cũng lớn khôn và lập gia đình, duy chỉ có người em cứ mãi ngơ ngẩn như đứa trẻ. Con đứa nào cũng nghèo nên hai vợ chồng bà khi già yếu vẫn ngày ngày lên núi kiếm củi về bán lấy tiền đong gạo nuôi em.


    Cách đây 20 năm, ông mất khi vừa bước qua tuổi 60. Trước khi ra đi, ông cầm tay bà dặn: “Cố nuôi em giúp tui”. Ông nhắm mắt xuôi tay thì người em trở bệnh nặng hơn. Đôi mắt trở nên mờ đục rồi mù hẳn. Chân tay cứng đờ chẳng đi nổi và nằm luôn một chỗ. Ngày lo đám tang cho chồng xong, trong nhà còn đúng một thúng lúa, lại đang giáp hạt. Sợ đói, bà đem xay nấu cháo dè sẻn mỗi ngày một nắm cho em ăn, còn mình chỉ dám ăn khoai ăn sắn.


    Em ốm đau luôn nhưng không có tiền mua thuốc nên bà Thía biết khá nhiều bài thuốc nam hay. Người ở thôn này vẫn hay thấy bà Thía cần mẫn kiếm những cây thuốc ở bụi ở bờ phơi khô cất trong nhà phòng khi em đau ốm. Hai mươi năm nay, ông Trân cứ nằm một chỗ không hề biết gì xung quanh mình. Chẳng ai có thể cho ông ăn cháo, uống thuốc được ngoài bà Thía...


    Trong căn nhà nhỏ, hai bộ áo quan sơn màu đỏ được kê trong góc. Đó là hai bộ áo quan bà Thía dành dụm đóng cho mình và em chồng cách đây mấy năm. “Phòng khi tui nằm xuống trước thì áo quan của chú Trân cũng đã có rồi. Chết đi mà không có bộ áo quan tử tế thì tội nghiệp chú lắm” - người chị dâu tảo tần ấy giải thích.

    NGỌC NGA
    (báo Tuổi Trẻ)

  6. Thanks buinancy, smiletoday_1412, chuotbeo, obaasan thanked for this post
    Likes buinancy, meobeo, matbiec, obaasan liked this post
  7. #4
    Dạn dày sương gió vntruongson's Avatar
    Ngày tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    570
    Post Thanks / Like

    Quà tết của bà chủ nhà trọ

    Đã thành thông lệ, khi còn khoảng một tháng nữa là đến Tết Nguyên đán, bà Hoàng Thị Dinh (ấp 4, xã Đông Thạnh, H.Hóc Môn, TP.HCM) lại rục rịch đi mua quà tết tặng những công nhân ở trọ nhà bà.


    Click image for larger version

Name:	ImageView.aspx.jpg
Views:	45
Size:	37.6 KB
ID:	2541
    Bà Dinh và con dâu tỉ mỉ gói từng món quà tặng công nhân ở trọ - Ảnh: M.Mẫn


    Năm nay làm ăn khó khăn, giá vé xe khách, tàu lửa lại tăng cao nên nhiều công nhân về quê sớm. Vì thế, bà cũng đi mua quà sớm hơn.

    Trưa 18-12, chị Huyền, con dâu của bà Dinh, cũng có phòng trọ cho thuê, cầm trên tay hai phiếu giảm giá mua hàng tại siêu thị đến đón mẹ đi mua hàng. Hai mẹ con ngồi bệt xuống sàn nhà, lấy giấy bút liệt kê những thứ cần mua. Tính nhẩm bằng những đầu ngón tay, bà cho biết đầu tuần sau có sáu người về quê sớm. “Má nói năm nay khó khăn chung cả. Nhưng tội nghiệp nhất vẫn là những người công nhân đi làm sớm tối. Món quà cũng rẻ thôi nhưng là chút tấm lòng với những người lao động nghèo” - chị Huyền chia sẻ.


    Những năm trước bà Dinh thường mua bánh mứt, hạt dưa làm quà. Nhưng năm nay quà tết được thay bằng bột ngọt, dầu ăn, đường. Những thứ mà theo bà là cần thiết với người công nhân trong thời buổi này. Chứ còn bánh kẹo, mứt, hạt dưa tuy giá cũng ngang nhau nhưng người ta chỉ thấy ngon khi cái bụng đã no cơm, no thịt. Bà cẩn thận chia thành bảy gói quà, rồi lấy giấy bọc bên ngoài, ghi tên người nhận kèm theo lời chúc tết.
    Sự san sẻ với công nhân ở trọ của bà Dinh không phải đợi đến ngày tết. Đầu năm 2011 mới có phong trào vận động không tăng giá phòng trọ nhưng đã hơn hai năm nay, bà không tăng giá phòng, giá điện. Mấy hôm nay đọc báo có thông tin tăng giá điện, bà nhờ đứa cháu xem bảng giá, tính thêm cả các loại thuế rồi mới thông báo cho từng phòng. “Cũng là người miền Trung từng đi làm thuê, làm mướn nên tui thấy thương cho người công nhân thời buổi này. Lương thì bèo bọt mà cái gì cũng tăng giá. Mà lại tăng vào thời điểm cuối năm mới đắng họng chứ” - bà tâm sự.


    Cái tình đó của bà Dinh khiến nhiều công nhân đến thuê phòng gắn bó với bà nhiều năm nay. Nhiều công nhân đến ở, về quê cưới vợ, lấy chồng rồi lại quay về phòng trọ của bà sinh sống, làm ăn, sinh con cái. “Năm trước mình không đủ tiền mua vé xe về quê, cô Dinh cho thiếu lại tiền trọ tháng cuối để có tiền về. Rồi lại dúi món quà vào tay tôi vì sợ tôi ngại không dám nhận” - chị Tình, quê Hà Tĩnh, một công nhân ở trọ, xúc động kể.
    Những món quà của bà Dinh như một ngọn lửa dù nhỏ cũng khiến nhiều công nhân thấy ấm lòng. Bởi trong hành lý của những công nhân ấy, ngoài những món hàng tết mang về quê mà họ mua được bằng mồ hôi nước mắt, còn có thêm một gói quà đầy tình người.


    MINH MẪN
    (báo Tuổi Trẻ)

  8. Thanks buinancy, smiletoday_1412, chuotbeo, obaasan thanked for this post
    Likes buinancy, meobeo, obaasan liked this post
  9. #5
    Dạn dày sương gió vntruongson's Avatar
    Ngày tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    570
    Post Thanks / Like

    Người mẹ thứ hai của Vân

    Câu ví von “Mấy đời bánh đúc có xương, mấy đời mẹ ghẻ mà thương con chồng” đã hoàn toàn bị xóa nhòa tại ngôi nhà nhỏ TK6/25, P.Cầu Kho, Q.1, TP.HCM từ 13 năm trước.


    Click image for larger version

Name:	ImageView.aspx.jpg
Views:	45
Size:	48.9 KB
ID:	2542
    Bà Vân, con gái Hồng Vân và ông Cường - Ảnh: Đ.P.


    3g30 sáng, bà Trần Thị Ngọc Vân đã lục tục thức dậy chuẩn bị quần áo, thuốc men cho con gái Võ Thị Hồng Vân,17 tuổi, để em đi chạy thận cùng cha ở Bệnh viện 115. Sau đó, bà tất tả đến nhà chủ để làm thuê với công việc dọn dẹp nhà cửa, nấu nướng. Mỗi ngày được chủ cho 20.000 đồng để ăn sáng, bà nhịn hết mang tiền về cho cha con Vân mua cơm ăn, chờ chạy thận ở bệnh viện. Chiều, bà gom góp thức ăn dư ở nhà chủ mang về cho gia đình nhỏ ba người ăn qua ngày.


    Vân bị bệnh teo thận giai đoạn cuối nên ăn uống phải có chế độ kiêng khem rất kỹ. Thế nên dù ăn uống đạm bạc, lúc nào bà cũng phải cẩn thận, cố gắng cân, đong, đo, đếm từng gram thịt bò, thịt heo, từng chén canh, ly nước cho con.


    “Hai trái thận của cháu giờ teo réo bằng ngón tay cái, bốn năm trời không biết đi tiểu một giọt, bởi vậy lúc nào cũng phải canh chừng, không cho uống nước nhiều, không ăn ngọt” - bà nói.


    Chăm chút cho con là thế nhưng kỳ thực bà Vân chỉ là mẹ kế của Vân, sau khi mẹ ruột của em mất sớm. Hỏi có ai ác miệng nói ra nói vào “mẹ ghẻ con chồng” hay không, bà trả lời rổn rảng: “Trời ơi, tui ở với ổng được 13 năm rồi, bé Vân là con tui luôn chớ con chồng gì! Mẹ nào cũng vậy thôi, ai mà không thương con!”.
    Từ khi nên nghĩa vợ chồng với ông Võ Văn Cường, chị dồn hết tình thương của mình cho con, bất kể bao nhiêu khó khăn dồn dập đè lên vai mình. Ngày con học mẫu giáo, tiểu học, bà cầm tay dắt con đến trường mỗi ngày, lo cho con từng bữa ăn giấc ngủ. Lên THCS, Vân phát bệnh suy thận. Chuỗi ngày nợ nần và “cắm trại” liên tục của ông bà trong Bệnh viện Nhi Đồng 2 bắt đầu. Ngày Vân lên cơn giật co rúm, tím tái đến rũ người, bác sĩ gọi người nhà vào ký giấy cam kết mổ là lúc ông bà đau đớn nhất.


    “Nghe tiếng con khóc mà ứa nước mắt, vừa ký vừa run, may mà qua khỏi! Từ đó đến giờ 3-4 năm, vợ chồng tui toàn vui buồn theo bệnh tình của con” - bà tâm sự.


    Ông Cường, chồng bà, đã nói về bà với ánh mắt đầy biết ơn: “Hồi đó mẹ ruột bé Vân mất, tui buồn lắm, đi lang thang nhậu nhẹt suốt. Lúc biết bé Vân bệnh cũng vậy, tui tưởng mình chết thêm lần nữa! Cũng may có mẹ nó bây giờ phụ tui, động viên hết sức nên mới ráng được tới giờ này!”.


    Còn Vân đã viết về người mẹ kế thật xúc động trong bài tập làm văn ở lớp: “Tuy nói là mẹ kế nhưng mẹ yêu thương em nhiều lắm, em không gọi mẹ là dì mà đã gọi được hai tiếng mẹ Vân. Chắc có lẽ là ý trời, mẹ em phải rời xa em và cho em một người mẹ thứ hai”.


    ĐOÀN BẢO CHÂU - ĐỖ PHI

    (báo Tuổi Trẻ)

  10. Thanks buinancy, smiletoday_1412, chuotbeo, obaasan, Meo Map thanked for this post
    Likes buinancy, meobeo, obaasan liked this post
  11. #6
    Dạn dày sương gió vntruongson's Avatar
    Ngày tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    570
    Post Thanks / Like

    Chuyện thầy Khiêm khuyết tật

    Đi về phía núi Hòn Ông, nơi có xã Canh Hiển nghèo của huyện vùng cao Vân Canh (Bình Định), dáng thầy Khiêm xiêu vẹo trên con đường làng.

    Click image for larger version

Name:	ImageView.aspx.jpg
Views:	46
Size:	63.1 KB
ID:	2543
    Thầy Nguyễn Trần Khiêm trên bục giảng - Ảnh: Tr.Đăng

    Theo đôi nạng gỗ của thầy là học trò lớn nhỏ đủ lứa tuổi. Học sinh thì đến luyện thi, người lớn học tin học, người khuyết tật học nghề... Đã bao nhiêu năm nay thầy dang đôi tay che chở, chắp cánh cho những thân phận, những ước mơ.


    Nguyễn Trần Khiêm sinh năm 1966, lên 7 tuổi thì cha mất, hình ảnh chưa kịp ghi vào ký ức. Thầy Nguyễn Trần Khiêm cố lục tìm quá khứ: “Tôi chỉ nhớ lúc nhỏ mình không có cha, cứ lê lết chứ không đi lại được. Mẹ kể lại đôi chân tôi bị liệt từ khi còn nhỏ”. Cuộc đời thầy Khiêm bắt đầu như thế, không có bước chân chập chững, chỉ có đôi nạng lộc cộc chấm những bước xiêu vẹo trên đường đời.


    Kiến thức là mồ hôi nước mắt của mẹ


    Lúc nhỏ Khiêm cũng đòi mẹ cho đi học. Không hi vọng nhiều nhưng muốn con mình hòa nhập với bạn bè, hằng ngày trước khi ra đồng, người mẹ phải làm đôi chân cõng con đến lớp. Không ngờ Khiêm lại rất sáng dạ. Thấy con học được, người mẹ nghèo cũng quyết chí chăm cho con học đến cùng. Lên được vài lớp, Khiêm tự đi được với đôi nạng bé xíu. Giải thoát đôi lưng gầy gò của người mẹ là niềm vui của Khiêm. Đi nạng mỏi, Khiêm lết. Cứ thế 12 năm học phổ thông nhọc nhằn trôi qua, Khiêm thường xuyên đạt học sinh giỏi và thủ khoa môn văn (9 điểm) khi thi tốt nghiệp THPT năm 1986.



    "Không thể phung phí kiến thức học được vì đó là mồ hôi và nước mắt của mẹ, của chính mình"
    Nguyễn Trần Khiêm






    Nhưng cuộc đời không thể bằng phẳng khi chính đôi chân lại gập ghềnh. Đến năm 1992 anh mới được dự thi đại học do định kiến xã hội. Học năm cuối thì mẹ bị bệnh mất, anh sinh viên nghèo mồ côi vẫn không gục ngã. Anh làm gia sư, đánh máy vi tính tự nuôi sống mình. Có chú sửa đồng hồ gần nhà trọ thấy thương quá nên gọi Khiêm đến truyền nghề. Từ đó anh có nghề mới mưu sinh để tiếp tục học. Năm 1997, anh tốt nghiệp hệ chính quy Trường ĐH Bách khoa Đà Nẵng trong sự ngỡ ngàng của xóm nghèo mà việc học hết phổ thông đã là xa xỉ đối với người bình thường.

    Không thể gõ cửa cơ quan bằng đôi nạng gỗ, anh lặng lẽ ở nhà thêm sáu năm nữa. Cuộc đời quá nhiều gian truân nhưng không vì thế mà buông xuôi. “Tôi nghĩ mình phải làm điều gì đó, không thể để kiến thức học được phung phí vì đó là mồ hôi và nước mắt của mẹ, của chính mình” - anh tâm sự.


    Từ chiếc máy tính cà khổ đến cơ sở dạy vi tính


    Vậy là anh quyết định gọi học sinh nghèo quanh xóm đến để dạy. Học trò nghe tiếng đến học đông, anh sinh viên tật nguyền thất nghiệp trở thành người thầy ở xóm nghèo heo hút.


    Lân la ở nhà thầy Khiêm mấy ngày, tôi nhận ra “học phí” đóng cho thầy là vài cân gạo, rổ khoai hay mấy bó rau rừng chính học trò đi chăn bò hái về. Ngồi nấu nồi khoai học trò vừa đem tới, thầy tâm sự: “Chủ yếu là dạy miễn phí vì thấy các em nghèo quá, mình chỉ muốn giúp các em có kiến thức để vượt qua cái nghèo thôi”. Thầy nói thế nhưng trong căn nhà vách tường rách nát chưa có tiền vá víu, chính thầy cũng chạy ăn từng bữa.
    Nhiều học trò ở vùng núi đi lại khó khăn nên đến thầy học cả ngày, trưa lấy gạo nấu cơm ăn. Mùa vừa rồi gặt được 16 bao lúa nhưng giờ chỉ còn một bao để ở góc nhà, 15 bao học trò đường xa đói quá đã nấu hết. Nhà thầy như một ngôi trường tình thương, học trò xúm xít.


    Nương tựa nhau trong cái nghèo cũng là bài học về cuộc sống. Nhiều em cảm nhận được trăn trở, lòng yêu thương và tấm gương nghị lực của thầy nên cố gắng học. Nhờ vậy nên ngày càng có nhiều học sinh của vùng đất nghèo này bước chân vào cổng trường ĐH.


    Dành dụm được bao nhiêu tiền, thầy Khiêm mua dần khi thanh ram, lúc con chuột, rồi bàn phím... Gom góp dần đến năm 2005, thầy ráp được chiếc máy tính đầu tiên. Chiếc máy tính có ổ cứng chỉ 2,5GB, thanh ram 128MB, bật lên khi chạy khi treo nhưng nó đánh dấu mốc cho cuộc đời thầy. Thầy kể: “Lúc đó nhiều người thấy tôi có máy vi tính kéo đến xem. Ban đầu chỉ vài người đến học đánh chữ, sau nhu cầu lớn dần nên tìm cách sắm thêm để dạy cho họ”.


    Sáng kiến của thầy là đi mua lại máy tính ở vựa đồng nát về tận dụng, lắp ghép, sửa chữa. Lịch sử của nhiều máy tính ra đời trong hoàn cảnh như thế, nhưng giờ đã là một cơ sở đào tạo tin học liên kết với Trường trung cấp nghề Thủ công mỹ nghệ của Sở Lao động - thương binh và xã hội hẳn hoi.


    Học trò của thầy đủ đối tượng, từ học sinh đến cán bộ, con em đồng bào Ba Na, H’Re, cả nông dân cũng đến học để ứng dụng công nghệ trong sản xuất.


    Anh Xô Y An (người Ba Na), giáo viên dạy mỹ thuật ở Trường bán trú Canh Liên, vượt hơn 50km đường rừng đến thầy học tin học lớp chứng chỉ A, cho biết: “Đường đi cực nhọc lắm, mưa thì không đi được, đến đây học có khi ở lại ngủ nhà thầy luôn. Thầy rất vui vẻ, nhiệt tình tạo điều kiện cho chúng tôi. Nếu không có cơ sở của thầy thì chúng tôi phải đi thêm gần 50km nữa mới có chỗ học”.
    Hiện nay cơ sở của thầy đã có trên 10 máy, tuy tốc độ không nhanh nhưng máy vẫn chạy, như cuộc đời thầy vẫn luôn vươn lên trong khó nhọc.


    Tổ ấm cho người khuyết tật


    Nhưng đối tượng đặc biệt mà thầy chuyên tâm đó là những người khuyết tật. Có người không tự đi được phải cõng, thậm chí mù, câm điếc, không biết chữ... thầy đều nhận. Họ đến với thầy để tìm chỗ dựa tinh thần, tìm cơ hội hòa nhập cộng đồng. Năm 2007, thầy vận động và tìm đến Hội Bảo trợ trẻ tàn tật và mồ côi tỉnh Bình Định xin thành lập chi hội người tàn tật để có cơ sở pháp lý tìm nguồn tài trợ, tìm việc làm cho hội viên. Có chi hội, công việc thầy bề bộn hơn với những ngày đi vận động, kêu gọi những tấm lòng nhân ái tài trợ giúp đỡ những cảnh đời không may mắn.


    “Mình không thể cho họ “con cá” mãi mà phải cho “cần câu” để họ tự mưu sinh”, quan điểm đó của thầy được hiện thực hóa qua các lớp học. Thầy dạy họ sử dụng máy vi tính và vận động gia đình góp vốn mở các cơ sở làm dịch vụ tự kiếm sống. Ai không học được vi tính thì thành lập các nhóm lao động chân tay. Nhóm làm chổi đót, thợ mộc ở tại nhà thầy hình thành. Họ được làm việc trong một cộng đồng gồm những người đồng cảnh nên không bị rào cản bởi những tự ti, mặc cảm.


    Để dạy được một người khuyết tật ra nghề là một công việc không phải ai cũng làm được. Như gia đình Đào Thị Lệ Diễm có ba người khuyết tật, bản thân Diễm bị liệt hai chân, ít dám ra khỏi nhà và sợ chỗ đông người. Nhiều lần thầy đến tâm sự, lấy bản thân mình ra làm gương. Dần dần Diễm nghe rồi làm theo. Bây giờ Diễm là tổ

    trưởng một tổ có sáu người khuyết tật cùng làm ở một cơ sở photocopy, vi tính do thầy vận động vốn tài trợ mở. Diễm tâm sự: “Nếu không có thầy Khiêm chắc mình không biết gì ngoài xã hội, không biết đường phố hay chợ chứ đừng nói gì đi học mà làm nghề. Thầy Khiêm như một người cha nuôi của rất nhiều người trong hội”.
    Kỹ năng dạy người câm điếc, người mù còn thiếu, thầy đến các trung tâm bảo trợ xin tài liệu, xin tham gia các lớp tập huấn để đào tạo nghề cho họ. “Dạy cho người mù, câm điếc rất khó, nhiều người không biết chữ, lại không nhìn thấy, không nghe được. Một số em gia đình đưa đến gửi nhưng còn tự ti hoặc bướng bỉnh, quậy phá chứ ít muốn học hay làm việc. Tuy nhiên tôi có lợi thế là người khuyết tật, người đồng cảnh ngộ nên dễ nói với nhau hơn”.


    Ra nghề, có người tự đi lại được thì xin đến điểm Internet làm, nhóm thợ mộc đến các xưởng mộc, họ tự kiếm sống bằng đôi tay không lành lặn. Nhiều người học thành nghề nhưng không có vốn mở cơ sở, thầy gom góp được ít tiền ráp máy vi tính cũ cho vài người ra riêng đánh máy thuê như những đứa con lớn lên tách riêng khỏi mẹ. Để có khách hàng, thầy đến vận động, tiếp thị các cơ quan, trường học trên địa bàn. Thấy thầy làm việc không vụ lợi cá nhân, ai cũng ủng hộ.


    Năm 2011, thầy trở thành thầy giáo thật sự khi Trường trung cấp nghề Thủ công mỹ nghệ của Sở Lao động - thương binh và xã hội hợp đồng mở cơ sở tin học đào tạo cho cán bộ, người dân trên địa bàn huyện Vân Canh.

    Chi hội của anh Khiêm mạnh nhất tỉnh
    Click image for larger version

Name:	ImageView.aspx.jpg
Views:	47
Size:	84.4 KB
ID:	2544
    Thầy Khiêm hướng dẫn một thanh niên người Ba Na học vi tính - Ảnh: Tr.Đăng



    Ông Phan Thanh Dũng, chủ tịch Hội Bảo trợ người tàn tật và trẻ em mồ côi tỉnh Bình Định: “Chi hội Niềm tin ở huyện Vân Canh mà anh Khiêm làm chi hội trưởng là chi hội mạnh nhất trong tám chi hội của tỉnh. Chi hội này thành lập được nhiều tổ tự lực, tạo nhiều cơ hội cho người khuyết tật có công ăn việc làm, hòa nhập với cộng đồng. Bản thân anh Khiêm rất nhiệt tình, có nhiều sáng kiến, làm việc công bằng, công minh nên có uy tín, được xã hội tin tưởng”.



    TRƯỜNG ĐĂNG
    (báo Tuổi Trẻ)

  12. Thanks buinancy, smiletoday_1412, chuotbeo, obaasan thanked for this post
    Likes buinancy, meobeo, obaasan liked this post
  13. #7
    Dạn dày sương gió vntruongson's Avatar
    Ngày tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    570
    Post Thanks / Like

    Người “quản trang” ở Cầu Ngà

    Trường bắn Cầu Ngà ngày đầu tháng 11 âm lịch, những hàng mộ tử tù lúp xúp nối nhau trong gió lạnh, may thay trước mỗi nấm mồ đều có một cây hương đang cháy đỏ, xua đi không khí u tịch những ngày đầu đông.


    Click image for larger version

Name:	ImageView.aspx.jpg
Views:	44
Size:	59.9 KB
ID:	2545
    Chị Hằng (trái) bên cánh cổng tạm dẫn từ vườn nhà chị vào pháp trường Cầu Ngà trước đây - Ảnh: VIỄN SỰ

    Ở góc xa, nơi có một cái am nhỏ còn có cả hoa tươi, một ít bánh, hoa quả. Người ở xa đến có thể sẽ nghĩ rằng những tử tù đang nằm tại Cầu Ngà này vừa có người thân đến thăm viếng. Nhưng không, người đã góp phần làm cho trường bắn Cầu Ngà bớt hoang lạnh ấy là một phụ nữ. Không bà con thân thuộc với tử tù, chẳng ai giao phó trọng trách, gần 20 năm nay người phụ nữ ấy đã sống cạnh những nấm mồ tử tù. Và việc đều đặn khói hương chỉ là một trong rất nhiều câu chuyện của chị gắn với trường bắn Cầu Ngà (xã Tây Mỗ, huyện Từ Liêm, Hà Nội).


    Duyên nợ với trường bắn


    Người phụ nữ ấy là chị Lê Thị Hằng, năm nay 40 tuổi, dáng người phốp pháp, ăn to nói lớn, nhà ở cạnh ngay trường bắn Cầu Ngà. Nói cho đúng hơn là lối vào trường bắn cũng là lối vào nhà chị Hằng. Thậm chí trước khi trường bắn được dời lên nơi cao ráo hơn, mỗi lần tử tù được giải ra pháp trường đều đi ngang qua khoảnh sân nhà chị. Vậy nên những khoảnh khắc cuối cùng của rất nhiều tử tù vẫn còn được chị Hằng nhớ như in. Nghề của chị Hằng là buôn bán đá quý, có cả cửa hiệu mặt phố nhưng “mấy lần tôi đưa cả nhà ra phố ở mà không quen được, con cái cứ ốm vặt suốt, về đây sống lại quen hơn” - chị Hằng tâm sự. Câu chuyện lạ lùng ấy bắt đầu từ mối duyên nợ ngay từ ngày đầu trường bắn Cầu Ngà ra đời.


    Đó là năm 1993, bố chị Hằng là ông Lê Bá Ngoan vốn làm nghề đóng gạch bên cạnh mảnh đất của trại tạm giam Công an Hà Nội đã cắt một phần đất lò gạch ven sông Nhuệ cho trại giam làm trường bắn. “Đất đai hồi ấy rẻ như cho, cái lò gạch cũ nhà tôi cỏ dại mọc um tùm nên khi các chú công an ngỏ ý, bố tôi đồng ý ngay” - chị Hằng nhớ lại. Và vô tình từ sau cái gật đầu ấy của bố chị, muốn đến pháp trường, tất cả tử tù lẫn những cán bộ thi hành án đều phải đi qua khoảnh sân nhà chị. “Lúc đầu, cứ mỗi hôm trời mờ sáng mà nghe tiếng người đi rậm rịch, tiếng khóc lóc kêu than của tử tù, rồi lời tuyên án và sau cùng là một loạt đạn vang lên là tôi chỉ biết trùm chăn vì sợ hãi” - chị Hằng nhớ lại. Nhưng sau mỗi lần như vậy, khi trời ửng nắng, cứ như có ai xui khiến, chị Hằng ra chợ mua quả trứng về nấu bát cơm, mang thêm thẻ hương ra thắp cho những tử tội vừa nằm xuống. Vì chị nghĩ đơn giản họ đã đền tội rồi, giờ họ nằm đây, người thân chưa ai kịp đến, một chút hương khói cho các tử tù bớt cô quạnh.


    Nỗi sợ hãi ban đầu lâu dần thành quen, cứ mỗi buổi chiều khi có công binh về rà mìn quanh trường bắn, chị Hằng lại biết hôm sau có thi hành án tử tù. Vậy là gạo, trứng, hương lại được chuẩn bị sẵn, tổ thi hành án vừa xong cũng là lúc chị Hằng làm cái nghĩa cử tự nhiên của mình. Những tử tù ở Cầu Ngà sau khi thi hành án vì thế ai cũng bình đẳng như nhau, có bát cơm, quả trứng và nén hương được cắm trước phần mộ. Nhưng sau đó thì không, nhiều tử tù vừa nằm xuống vài ngày đã có người nhà đến chăm nom, hương khói, làm lại bia mộ tươm tất, sau vài năm được bốc mộ về gần gia đình. Nhưng cũng có những nấm mồ tử tù, sau bát cơm, quả trứng và nén nhang của chị là chuỗi tháng năm cô quạnh, bia mộ xiêu vẹo, cỏ dại mọc lút, không còn tìm ra được.
    Và những thân phận cô quạnh ấy của tử tù lại kéo dài duyên nợ của chị Hằng với trường bắn Cầu Ngà. Sau lần cúng bát cơm, quả trứng ngày đầu tiên, những nấm mồ tử tù không người chăm nom lại làm chị động lòng trắc ẩn. Cho đến tận những ngày cuối cùng của trường bắn Cầu Ngà đã ngót nghét 20 năm. Bây giờ trường bắn dù đã dời lên nơi cao ráo hơn, nằm hẳn trong trại giam và có cán bộ quản giáo chăm nom, nhưng chị Hằng bảo cứ đến ngày rằm, mồng một lại thấy áy náy nếu không vào thắp được nén hương cho đủ vòng những phần mộ.

    Chứng nhân của trường bắn


    Gần 20 năm sống cạnh trường bắn, chứng kiến hàng trăm lần thi hành án tử tù, chị Hằng như một cuốn sổ ghi chép gần như tất cả khoảnh khắc cuối cuộc đời của một tử tù. Chị kể có nhiều tử tù người mềm nhũn khi đi qua khoảnh sân nhà chị, mặt rũ rượi trong giây phút cuối đời. Nhưng cũng có tử tù như Vũ Xuân Trường - trùm ma túy khét tiếng, lúc ra pháp trường hình như biết tội lỗi quá tày đình nên chỉ mỉm cười với cán bộ thi hành án mà không một lời khóc than. Có đàn em của Vũ Xuân Trường mà chị không nhớ tên còn xin cán bộ áp giải một hơi thuốc khi đi ngang sân nhà chị. Lại cũng có những tử tù như Khánh Trắng, ngày thi hành án thông tin ở đâu rò ra ngoài, đàn em kéo theo ra pháp trường đưa tiễn làm công an phải chặn các ngả đường vào pháp trường từ phía Cầu Diễn, canô rảo liên tục trên sông Nhuệ cạnh pháp trường ...


    Nhưng tất cả ký ức về khoảnh khắc cuối cùng ấy của tử tù không phải dành để chị Hằng “buôn chuyện”. Nhà ở ngay cổng trường bắn nên thân nhân tử tù nào lần đầu đến tìm mộ, người đầu tiên họ gặp chính là chị Hằng, những khoảnh khắc cuối cùng của tử tù mà chị Hằng chứng kiến đã nhiều lần trở thành câu chuyện quý giá kể lại với người thân đến tìm mộ. Và lại thêm một duyên nợ, những nén hương được chị cắm xuống từng phần mộ từ lúc tử tù ngã xuống hay đều đặn mỗi ngày rằm, mồng một đã đưa chị trở thành “thổ địa” của nghĩa trang tử tù. Nhiều mộ tử tù theo năm tháng chìm khuất trong cỏ dại, tấm bia gỗ mục nát vẫn được chị Hằng nhớ và tìm ra giúp người thân.


    Nhưng chừng đó hình như vẫn chưa đủ trả hết “duyên nợ” mà chị Hằng trót mang với trường bắn Cầu Ngà, những thân nhân tử tù ở xa ấy sau khi tìm được phần mộ của người thân muốn tìm người bốc mộ đã nhờ ngay luôn chị Hằng. Thế là bỗng dưng một phụ nữ buôn bán đá quý giữa thủ đô lại kiêm luôn nghề bốc mộ. Đến giờ trong số hơn 200 nấm mộ tử tù ở Cầu Ngà từng được chị Hằng hương khói đã có hơn 30 nấm mộ được chính tay chị Hằng cải táng.


    “Gọi là nghề thì phải tội, tôi không dám thế. Nhưng làm cái việc nhiều người ghê này lắm lúc cũng mang đến nhiều niềm vui. Tôi vừa mới đi ăn giỗ một tử tù tận Bắc Ninh, người nhà họ mời vì nhớ lúc đến tìm bốc mộ thấy mình chu đáo với người nhà của họ” - chị Hằng kết thúc câu chuyện của mình như vậy!


    VIỄN SỰ - HOÀNG ĐIỆP
    (báo Tuổi Trẻ)

  14. Thanks smiletoday_1412, chuotbeo, matbiec, obaasan thanked for this post
    Likes matbiec, obaasan liked this post
  15. #8
    Dạn dày sương gió vntruongson's Avatar
    Ngày tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    570
    Post Thanks / Like

    Căn nhà của mèo hoang

    Bao năm tích cóp, bà Tạ Thị Thảo Trang (47 tuổi) đến nay cũng đã xây cho mình một căn nhà đàng hoàng ở xã Phú Hòa Đông, Củ Chi, TP.HCM. Ở căn nhà mới này, ngày ngày bà phải đón đến ba tuyến xe buýt mới vào đến nội thành làm thiết kế đồ họa.

    Nhưng bù lại, 200 con mèo hoang mà bà cưu mang bao năm qua có được chỗ ổn định, không phải nghe tiếng hàng xóm phàn nàn, không phải đối mặt với nguy cơ từ những tay săn mèo lấy thịt.



    Click image for larger version

Name:	ImageView.aspx.jpg
Views:	44
Size:	69.3 KB
ID:	2546
    Bà Trang với “đàn con” của mình - Ảnh: DUY NGỌC


    Yêu mèo từ nhỏ, nhưng trong những giấc mơ từ thuở bé bà Trang không bao giờ ngờ có ngày mình phải luôn bận rộn lo ăn uống, vệ sinh cho hơn 200 con mèo đủ mọi bệnh tật, tính tình.


    Mọi chuyện bắt đầu khi bà thấy một con mèo mình mẩy đầy máu me, nằm thoi thóp bên đường. “Thấy ánh mắt con vật nhìn mình, tui không cách gì rời đi được. Đem tới bác sĩ thú y cũng nghĩ nó không thể qua khỏi. Đem về chăm sóc nó sống thêm được gần cả tháng...” - bà Trang kể lại hành động cứu mèo đầu tiên của mình.
    Chuyện đó cũng đã gần 30 năm, những con mèo được bà Trang cứu sau đó đa số cũng trong hoàn cảnh tương tự. Hư thai, bệnh tật, tai nạn..., những con mèo bị chủ xua đuổi, đi lạc đường đều được bà đem về hết mực yêu thương. Bà Trang luôn tin tưởng: “Loài mèo khi tự cảm thấy không còn khả năng sống, nó sẽ tự tìm nơi giấu mình để chết. Bằng không nó sẽ có ánh mắt cầu mong sự sống với những người đi qua”.


    Đã gần tuổi ngũ tuần, lại bị di chứng một bên chân do sốt bại liệt từ nhỏ, nhưng bao năm qua chưa lần nào “đàn con” của bà phải đói. Dạy thêm tiếng Pháp, vẽ tranh, bà luôn cần mẫn làm việc ngày này qua ngày khác để có thể nấu đủ ngày hai bữa cho cả đàn. Đàn mèo gần như chiếm hết giờ nghỉ của bà Trang, nhưng cũng chính chúng là nguồn sức mạnh cho người phụ nữ tóc đã hoa râm ấy.


    “Tui dựng nơi này để những con mèo bạc phước, khi gặp nạn có thể tiếp tục sinh mạng của chúng. Nếu ai thật tình thương yêu chúng, tui sẵn sàng để họ nhận về nuôi, chứ một mình không thể đủ sức lo hết cho đàn mèo vẹn toàn được. Tui còn phải thiến hết mấy con, chứ để sinh sản thêm thì mình cũng không đủ sức nuôi được...” - bà Trang tâm sự.


    Ấy thế mà hầu hết mọi người khi nghe tin có một căn nhà chuyên cứu mèo hoang thì khi mèo mình nuôi gặp chút bệnh hay thương tật, tai nạn gì cũng lén đem đến vứt ngay trước cửa. Mỗi lần bắt gặp một con mèo hoang với máu me đầy mình như thế, bà phải lội ngược mấy chục cây số xuống phòng khám thú y quen thuộc ở quận 3 xem xét tình trạng sức khỏe cho nó. Rồi lại thở dài với chính con mèo vừa bị bỏ rơi: “Thôi chủ đã bỏ con thì cố mà về sống tiếp với mẹ vậy...”.


    SƠN LÂM
    (báo Tuổi Trẻ)

  16. Thanks smiletoday_1412, chuotbeo, obaasan, Meo Map thanked for this post
    Likes obaasan, Meo Map liked this post
  17. #9
    Dạn dày sương gió vntruongson's Avatar
    Ngày tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    570
    Post Thanks / Like

    Bữa cơm nghĩa tình của ông Bảy

    Từ đầu năm học 2011-2012 đến nay, cứ đến giờ tan lớp ca sáng mỗi ngày, gần 100 cô cậu học trò lớp 11, 12 Trường THPT Nguyễn Văn Khải (xã Bình Hàng Trung, huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp) lại í ới rủ nhau đi dùng bữa trưa miễn phí ở nhà ông Bảy.

    Click image for larger version

Name:	ImageView.aspx.jpg
Views:	50
Size:	48.4 KB
ID:	2547

    Ông Đinh Văn Bảy (đứng) mỗi ngày vẫn chăm chút bữa ăn cho các cô cậu học trò -Ảnh: M.Thuận


    Nhà ông Bảy cách trường chỉ hơn 1km. Sau khi dùng bữa trở lại trường, các em vẫn còn dư thời gian để nghỉ ngơi trước khi vào ca học buổi chiều. Tên đầy đủ của ông là Đinh Văn Bảy, cựu chiến binh. Nhưng do làm nhiều việc thiện nên mọi người quen gọi ông là ông Bảy “từ thiện”.


    Giúp học sinh học tốt


    Khoảng 11g30, con đường nhỏ dẫn vào nhà ông Bảy ở ấp 1, xã Hàng Bình Trung trở nên rộn rã tiếng nói cười của các cô cậu học trò tinh khôi áo trắng. Đến nơi, ai nấy nhanh nhẹn xếp xe đạp ngay hàng thẳng lối rồi lần lượt chia nhau ngồi ngay ngắn vào bảy chiếc bàn tròn. Trên đó đã dọn sẵn những thố cơm, dĩa rau luộc, dĩa đồ xào, tô đồ kho, chén mắm... một cách chỉn chu, sạch sẽ.


    Bên mâm cơm dọn ra tinh tươm, Nguyễn Thị Ánh Tuyết, học sinh lớp 12CB1, xúc động nói: “Nhờ bữa cơm nghĩa tình của ông Bảy mà em và các bạn không phải đạp xe về nhà ăn trưa. Năm nay em học lớp 12, tụi em phải ở lại học ca chiều liên tục. Nếu cứ đi từ trường về nhà rồi lại từ nhà lên trường chỉ để ăn cơm, mà nhà bạn nào cũng cách trường gần 5km thì rất mệt, học sẽ không hiệu quả” - Tuyết chia sẻ.
    Ông Bảy cho biết ý tưởng ban đầu chỉ tính nấu bữa cơm dành cho các em học sinh nhà xa. Nhưng thấy các em nhà gần nhưng gia đình nghèo thì vẫn có nhu cầu ăn bữa cơm từ thiện. Trong khi nếu vì tiết kiệm mà ăn cơm bụi thì không đảm bảo vệ sinh.


    Vậy là đối tượng được đến ăn cơm từ thiện cứ mở rộng dần. Ông Bảy từ chỗ cho dựng một phòng ăn đơn sơ rộng chừng 20m2, chứa được ba bàn ăn đã trở nên chật chội nên phải mở rộng thành một chái nhà rộng hơn 50m2, lợp tôn hẳn hoi. Chái nhà này giờ chứa được bảy bàn ăn cùng lúc.


    “Ngày xưa mấy đứa con tui cũng từng học xa như thế nên tui biết nếu buổi trưa mà các em cứ phải đạp xe đi đi về về, có khi nhà cách trường gần chục cây số thì làm sao các em có sức khỏe, tinh thần để học tốt được” - ông Bảy giãi bày.


    Để có những mâm cơm tươm tất là nhờ công sức của những người như dì Minh, bà Hai, bà Tươi, bà Xuyến, vợ chồng ông Chánh... Tổng cộng mỗi ngày có khoảng mười người luân phiên nhau đi chợ, chế biến thức ăn, nấu nướng và dọn ra bàn.


    Ông Đinh Văn Chánh vừa xào chảo rau lớn vừa quệt mồ hôi chia sẻ: “Nhà tui ở xã Bình Hàng Tây, cách đây hơn chục cây số. Tuy có xa một chút nhưng thấy việc làm của anh chị Bảy rất thiết thực nên hai vợ chồng tui mỗi ngày vẫn tranh thủ chở nhau đến giúp sức”. Không trực tiếp góp sức nhưng theo ông Bảy, nhiều bà con tiểu thương tại các chợ như Mỹ Hiệp, Bình Hàng Tây, Miễu Chánh, Mỹ Xương... đã giúp bếp ăn bằng những phần gạo, rau củ quả, trái cây mỗi ngày.


    Yêu thương không ngừng nghỉ


    Năm 1999, ông Bảy xuất ngũ về mở xưởng mộc làm kinh tế. Thu nhập của hai vợ chồng chỉ đủ nuôi ba đứa con khôn lớn. Nhưng hễ gặp ai khó khăn hơn mình là ông lại muốn giúp đỡ. “Lần đó vợ chồng tui mới đóng được một cái giường gỗ để nằm. Sau lần ổng đi thăm nhà anh ông hàng xóm về, ổng biết vợ người ta mới sinh mà không có giường nằm cữ. Thế là ổng biểu “hay vợ chồng mình nhường cho người ta nằm trước”. Tui chỉ biết nghe lời ổng giúp người” - bà Huỳnh Thị Ảnh, vợ ông, nhớ lại.

    Cứu tinh của các bệnh nhân hiểm nghèo
    Ngoài việc mở nhà ăn, từ năm 2010 đến nay ông Bảy còn được mọi người biết đến như vị cứu tinh của các bệnh nhân hiểm nghèo, gặp tai nạn bất ngờ vì ông sắm được một ôtô bảy chỗ và tự làm tài xế chở giúp những người nghèo khó đi khám, chữa bệnh mà không tốn tiền.
    Ông cũng đưa danh thiếp cá nhân, trên đó có ghi số điện thoại 0673.914803 cho nhiều nơi để ở đâu có tai nạn giao thông hoặc có những ca bệnh nặng cần xe chở đi cấp cứu thì gọi cho ông và miễn phí hoàn toàn nếu họ có hoàn cảnh khó khăn.

    Hôm chúng tôi đến nhà, vợ chồng ông Bảy đang nhận nuôi bé trai Hoài Nam, học lớp 4. Bà Ảnh cho biết nhà Nam có đến năm anh em. Bố Nam đi làm mướn, mẹ bị bệnh tim nặng nằm điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Cao Lãnh nhiều tháng qua.


    Thương hoàn cảnh của Nam nên từ hai tháng nay, vợ chồng ông đã không chỉ giúp bố mẹ Nam chuyện tiền nong chữa bệnh mà còn đưa Nam về nhà nuôi, cho em có điều kiện tiếp tục đi học. Đây chỉ là một vài trong vô số việc thiện mà vợ chồng ông Bảy âm thầm làm suốt bao năm qua.


    Để cùng chồng lo bữa cơm cho các em học sinh, mỗi buổi sáng bà Ảnh rất bận rộn với công việc bếp núc. Vừa nêm nếm cho từng món ăn, bà vừa tự hào khoe: “Tui tin việc làm của vợ chồng tui có ý nghĩa nên từ lúc bắt đầu làm đã nhận được sự giúp sức của rất nhiều người. Từ các con trong nhà đến những người hàng xóm, các doanh nghiệp lớn nhỏ gần xa biết chuyện cũng giúp gạo, giúp thức ăn... Bếp ăn vì thế không tắt lửa bao giờ”.
    Cùng có mặt tại mâm cơm với học trò của mình, cô Đỗ Nguyễn Xuân Thảo, giáo viên tiếng Anh Trường THPT Nguyễn Văn Khải, cho biết nhà trường rất cảm kích trước những việc làm của ông Bảy. Đoàn trường cũng đã quyết định tổ chức phong trào quyên góp từ thiện với số tiền thu được sẽ hỗ trợ nhà ăn của ông Bảy.


    “Chương trình nhằm giúp các học sinh, nhất là các em con nhà khá giả trong toàn trường, biết phát huy tinh thần tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách để giúp các bạn có hoàn cảnh khó khăn hơn có điều kiện học tốt” - cô Thảo nói.


    MỄ THUẬN

  18. Thanks smiletoday_1412, chuotbeo, obaasan thanked for this post
    Likes meobeo, obaasan liked this post
  19. #10
    Dạn dày sương gió vntruongson's Avatar
    Ngày tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    570
    Post Thanks / Like

    Người đàn ông mù đan thuyền thúng

    Ở làng Thọ Đơn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình có ông Nguyễn Văn Liền bị mù nhưng nổi tiếng chuyên đan thuyền thúng cho ngư dân ven biển ra khơi.


    Click image for larger version

Name:	ImageHandler.ashx.jpg
Views:	42
Size:	109.8 KB
ID:	2549
    Tuy bị mù, nhưng ông Liền vẫn gọt tre một cách thuần thục như người mắt sáng.

    Dù nay đã 70 tuổi, nhưng tay của ông Liền vẫn còn chắc khoẻ với những đường vót rựa trên cật tre một cách thuần thục như người sáng mắt; khi sờ vào bất cứ đoạn tre nào, ông đều nói đúng đặc tính của tre già hay non, yếu hay mạnh.
    Là một thương binh bị mù đôi mắt lúc ông mới ngoài 20 tuổi, ông kể: “Lúc đó, tui định treo cổ tự tử, nhưng bọ mạ tui phát hiện kịp thời và động viên tui phải sống”. Do hồi nhỏ, ông Liền được người lớn dạy đan những chiếc dần sàng, rổ rá, thuyền mành cho ngư dân khắp vùng biển Quảng Trạch, nên ông biết được nghề đan. Bây giờ, khi bị mù, ông quyết định phải tập nghề đan để kiếm sống cho bản thân, không phải sống lệ thuộc vào ai. Nghĩ thế rồi ông tập đan, “Tui tập dần từng ngày, đan lồng một, lồng hai, lồng chi tui cũng biết rồi, chừ chỉ khác là tui bị mù nên phải tập lại từ đầu”, ông Liền tâm sự. Sau một tuần, một tháng tập đan, có lúc ông vót tre, vót nhầm vào ngón tay chảy máu, nhưng ông vẫn không nản. Ba tháng sau, ông đan được một cái thúng và đổi được ba lon gạo, đủ ăn một ngày; người dân trong làng động viên, ông đan được cả dần sàng, rồi gàu tát nước, ai đặt gì ông đan nấy để kiếm cái ăn.


    15 năm trước, ở vùng biển Quảng Trạch có nhu cầu sử dụng thuyền thúng, nên những chiếc thúng mủng, dần sàng đã đi vào dĩ vãng. Do đó, ông Liền phải chuyển sang làm nghề đan thúng. Lúc đó, ở Đèo Ngang có người vào đặt làm thuyền thúng, nhưng người dân trong làng ông ở chưa có ai biết đan thúng, nên khi nghe tin, ông Liền nhận lời, hẹn hai tuần sau vào lấy thuyền thúng rồi trả tiền. Từ đó, ông nhận rất nhiều đặt hàng của ngư dân trong vùng đến đặt thuyền thúng. Sản phẩm thuyền thúng của ông làm ra được ngư dân mua hết bởi giá cả phù hợp, chất lượng đảm bảo do ông dùng tre chắc về làm. Thương tình ông Liền bị mù làm ăn chân thật, nhiều người mua thuyền của ông sau những chuyến đi biển trở về họ đều gửi tặng cho ông những con cá gọi là tình làng nghĩa xóm.


    Hiện nay, ông Liền đã hướng cả bảy đứa con của ông vào nghề đan thuyền thúng cho ngư dân đi biển. Đánh giá về ông Liền, ông Đậu Minh Ngọc, chủ tịch UBND huyện Quảng Trạch cho biết: “Ông Liền là một tấm gương để nhiều thương binh địa phương học tập, ông tàn nhưng không phế, nuôi được vợ con bằng nghề đan lát là điều tốt”.


    bài và ảnh: Quốc Nam

    (báo SGTT)

  20. Thanks Heli_hp, smiletoday_1412, chuotbeo thanked for this post
    Likes Heli_hp, yenminh0210 liked this post
+ Trả lời Chủ đề
Trang 1 của 4 1 2 3 ... CuốiCuối
Thông tin về chủ đề này Thông tin về chủ đề này
Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

     
Quyền viết bài
  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình