+ Trả lời Chủ đề
Kết quả 1 đến 4 của 4

Chủ đề: Nhà giáo nhân dân Lê Trí Viễn: Một đời dạy văn, một đời viết văn

  1. #1
    Dạn dày sương gió vntruongson's Avatar
    Ngày tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    570
    Post Thanks / Like

    Nhà giáo nhân dân Lê Trí Viễn: Một đời dạy văn, một đời viết văn

    Giáo sư - nhà giáo nhân dân Lê Trí Viễn

    Click image for larger version

Name:	phat bieu_1.jpg
Views:	13
Size:	71.2 KB
ID:	2940

    Giáo sư - nhà giáo nhân dân Lê Trí Viễn sinh năm Mậu Ngọ (10-3-1918) tại xã Điện Hồng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Học tiểu học ở trường Mỹ Hòa (Đại Lộc). Năm 1932, học ở Quốc học Huế, cùng lớp với Bửu Tiến, Cù Huy Cận; đỗ thành chung năm 1936. Năm 1937, học lớp sư phạm đặc biệt tại Huế, về Quảng Nam dạy ở các trường tiểu học Bảo An (Điện Bàn) ở Tiên Phước, Duy Xuyên. Ông tự học, đỗ tú tài Triết (1945).

    Sau Cách mạng Tháng 8-1945, dạy ở Trung học Khải Định Huế. Năm 1947, công tác ở Ty Tuyên truyền truyền Quảng Bình, dạy văn ở Trường Trung học Huỳnh Thúc Kháng (Hà Tĩnh). Năm 1950 - 1952, dạy ở Trường Nguyễn Huệ (Quảng Ngãi).

    Năm 1955, tập kết ra Bắc, làm Hiệu trưởng Trường Học sinh miền Nam (1956), công tác ở Ban Tu thư Bộ Giáo dục (1957). Năm 1958, giảng viên ở Khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Hà Nội. Năm 1960-1961, làm chuyên gia ở Đại học Bắc Kinh (Trung Quốc). Năm 1963-1970, Chủ nhiệm Khoa Văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

    Từ năm 1978, được chuyển vào làm công tác giảng dạy ở Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh cho đến khi nghỉ hưu.

    Ông vừa tinh tế vừa tài hoa trong bình giảng, vừa sâu sắc, kỹ lưỡng trong các công trình văn học sử. Phần chuyên sâu nhất của ông là văn học cổ điển Việt Nam. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1968). Năm 1980, được Nhà nước phong hàm Giáo sư . Năm 1998, được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân.

    Tác phẩm, công trình nghiên cứu chính: Lịch sử văn học Việt Nam (in chung thời kháng chiến chống Pháp ở khu V, 1950); Nguyễn Đình Chiểu ngôi sao càng nhìn càng sáng (1981); Quy luật hiện đại hóa văn học Việt Nam (1982); Quy luật phát triển lịch sử văn học Việt Nam (1987); Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam (1999); Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương. Đồng tác giả bộ Lịch sử văn học Việt Nam gồm 4 tập của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, do Nguyễn Lương Ngọc chủ biên, Lê Trí Viễn thư ký khoa học của công trình. Bộ Lê Trí Viễn toàn tập gồm 7 cuốn với gần 6.000 trang khổ lớn (Nxb. Giáo dục, 2006) là tập đại thành gần 70 năm miệt mài làm công tác nghiên cứu và giảng dạy từ bậc tiểu học đến trung học, đại học và trên đại học của ông.

    Giáo sư tạ thế lúc 8 giờ 50 phút ngày 3-2-2012 tại nhà riêng (68 đường A4, phường 12, quận Tân Bình - TPHCM).

    (Tổng hợp theo danang.gov.vn; báo Người Lao Động, v.v.)
    Lần sửa cuối bởi vntruongson, ngày 04-02-2012 lúc 09:51 AM.

  2. Thanks matbiec thanked for this post
    Likes matbiec liked this post
  3. #2
    Dạn dày sương gió vntruongson's Avatar
    Ngày tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    570
    Post Thanks / Like

    GS-NGND Lê Trí Viễn: Một lối tài hoa qua muôn nẻo lối đời

    Một đời tự học tự hành, một đời dạy chữ, dạy người và phục vụ xã hội, bậc đại thụ của ngành Văn thực sự là một tấm gương trong nghề dạy học. Nhưng trân trọng hơn cả là tâm hồn ông, cốt cách ông đã tạo ra một lối đi riêng trên con đường lớn - một lối tài hoa qua muôn nẻo lối đời…

    GS-NGND Lê Trí Viễn sinh ngày 10-3-1919 tại Điện Hồng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Dạy tiểu học từ 1939 tại Điện Bàn, dạy trung học tại chiến khu Liên khu IV và V, dạy đại học tại ĐHSPHN từ 1958 - chủ nhiệm khoa Ngữ văn ĐHSPHN (1963 - 1978), sau đó chuyển vào giảng dạy tại ĐHSP TPHCM. Ông được Nhà nước phong chức danh Giáo sư (1980) và danh hiệu Nhà giáo nhân dân (1990). Từ những việc làm pha nước, giã vôi...


    Biết tính thầy rất chính xác giờ giấc, tôi đi sớm hơn bình thường, tính đến trước 15 phút, đứng cho hoàn hồn 5 phút, bấm chuông người nhà mở cửa 5 phút, vô phòng khách đợi thầy ra sớm 5 phút - chắc thầy sẽ vừa lòng với việc “đúng giờ” của tôi. Ngặt nỗi đường đi bị kẹt xe mấy chặng đang sửa - chuyện thường ngày ở TP HCM hiện nay, tôi tới nơi trễ 15 phút (tức trễ nửa tiếng so với dự định ban đầu). Thầy không rầy nhưng có ý nhắc lại chuyện mới đây, một cô sinh viên trễ hẹn gần một tiếng đồng hồ, thầy dứt khoát không tiếp dù không phải đi đâu. Ở nhà nhưng thầy không rảnh cho những chuyện ngoài “chương trình”. GS-NGND Lê Trí Viễn là con người của công việc, là một Homo Eges (con người hành động), không phải loại “lý thuyết suông”.


    Ông tâm sự: “Tôi sinh năm 1919 tại vùng quê Điện Bàn, Quảng Nam. Đầu tiên học ở nhà, sau đi học trường. Khoảng mười, mười hai tuổi, tại nhà tôi thường có những cuộc tụ tập bạn học, bạn văn của cha. Nhất là vào kỳ thi hương, khoảng 1930, cha tôi thi xong trường Nhì, vô trường ba. Mọi người tụ tập ngâm, bình thơ, câu đối… Tôi được sai đi pha nước, điếu đóm cho các cụ. Vừa làm, tôi vừa lõm bõm nghe các cụ ngâm, bình, đàm luận văn chương rất thích thú. Nhiều chữ tôi không hiểu, hỏi cha cắt nghĩa. Nghe cha giảng giải, tôi dần hiểu ra, thấy văn chương sao mà sâu sắc, thật đáng học, đáng làm theo.


    Quê tôi mỗi dịp xây nhà thường có cánh thợ vôi, thợ nề. Mỗi lần xây nhà cả tháng trời. Những đêm có trăng, họ ới nhau tổ chức giã vôi cho nhuyễn. Lòng máng dài rộng cỡ chiếc bàn lớn, khúc tre làm chày dài khoảng thước bảy, đầu nhọn – hàng chục người vừa cầm chày đi giã chung quanh vừa hát. Đó là một hình thức sinh hoạt thơ ca dân gian. Tôi hay đi nghe họ vừa hát vừa làm. Rồi những cuộc hát đối đáp nam nữ, vừa khúc khích cười vừa hắng giọng - sinh động làm sao! Người ta buộc dải hát hò khi đi cấy, nhổ mạ, làm cỏ…Thơ văn dân gian đi vào người tôi từ tuổi nhỏ như thế. Nhiều câu còn bé chưa hiểu rõ, nhưng nó cứ xúc động rân rân lòng mình”.
    Đang kể, GS Lê Trí Viễn bỗng ngâm lên mấy câu một cách tự nhiên, nghe sao mà thương:


    Mẹ ơi đừng đánh con đau,
    Để con bắt ốc, hái rau mẹ nhờ.
    Hay như câu sau ngậm ngùi quá đỗi:
    Chiều chiều ra đứng ngõ sau,
    Ngóng về quê mẹ, ruột đau chín chiều…


    Đặc biệt hồi nhỏ, tôi mê đọc những truyện như Chinh Đông chinh tây, Giọt máu chung tình, Tiết nhơn Quý… Bốn, năm đứa học trò rủ nhau đi học sớm, ghé bên đường một đứa đọc mấy đứa nghe. Chiều đi học về cũng vậy. Trong bài Về quê có nhắc lại kỷ niệm đó: “Chòi cao đọc Chinh Đông…”. Về sau ông sáng tác thơ. Và thơ ca đã giúp ông trong cuộc đời dạy học rất nhiều.
    GS Lê Trí Viễn (thứ hai từ phải sang cùng các thế hệ học trò)


    Tự học thi đỗ thủ khoa


    “Nhà tôi được chín anh em, phần lớn không học được nhiều; chị Hai tôi lại bị chết trôi, tôi là Út nên mọi người khuyên không nên tắm sông. Nhưng đi trâu với bạn, lũ trẻ chúng tôi dĩ nhiên hè nhau tắm sông. Một lần tôi suýt bị chết đuối do bơi kém. Khi ra Huế, tôi quyết tâm đi học bơi một năm, thành một tay bơi có hạng. Khi về quê, tôi bơi một mạch qua sông hai lần không nhằm nhò gì. Ấy là bởi may mắn trong tôi sớm có được cái “Chí”: ý chí vượt khó và lòng ham mê văn chương.” - Ông kể.

    Cũng nhờ có “Chí” mà khi học xong “cao đẳng tiểu học”, để đỡ gánh nặng cho gia đình nghèo, đông con, cậu Út Viễn học một năm sư phạm rồi đi dạy học. Năm 1939, Lê Trí Viễn bước vào nghề dạy học tại trường Bảo An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Vừa dạy vừa tự học, Lê Trí Viễn nâng cao trình độ Hán Nôm tiếp thu từ người cha, tới mức sáng tác được những bài thơ bằng chữ Hán. Dạy học được một năm, coi như xong tập sự, đã tương đối thành thạo nội dung chương trình và các thao tác đứng lớp. Lê Trí Viễn xúc tiến việc tự học để nâng cao trình độ. Sau buổi dạy, thầy giáo trẻ đi hỏi những người hiểu biết, kiếm tài liệu mua về đọc, ghi và tự mình kiểm tra, đánh giá kết quả từng phần, từng bài… cứ thế thâu đêm cho đến khi đăng ký thi và đỗ tú tài 1.
    Lạc quan trước kết quả bước đầu, Lê Trí Viễn xin nghỉ 1 năm để ra Huế kiếm cách “học tư”. Đọc đơn xin, ông Giám đốc giáo dục Trung kỳ thời ấy xúc động trước lòng hiếu học của một “thầy giáo-học trò”, liền quyết định cho Lê Trí Viễn về làm chân giám thị ở trường trung học Khải Định. Giữa đất kinh thành, vừa làm giám thị vừa “học mót”, sau 6 năm, chàng giám thị đã thi đỗ thủ khoa kỳ thi tú tài 2 ngành Triết năm 1945 (thi tú tài 2 thời ấy chỉ có hai ngành là Toán và Triết). Cả khóa thi chỉ 15 người thi đỗ. Nhớ lại “thời thanh niên sôi nổi”, vị GS già nói: “ Tự học mà thi được như thế là vì mình có ý chí, lại biết chuẩn bị kiến thức các mặt đều được chu đáo”.


    Lối đi riêng trên con đường lớn


    Cách mạng tháng Tám thành công, hòa với niềm vui chung của dân tộc, Lê Trí Viễn đặt hoài bão “nghĩ mình phải có trình độ đọc đông tây kim cổ”, thâu tóm sách vở, tinh hoa thế giới qua tiếng Hán và tiếng Pháp, có ý chuyển qua “văn nghệ”, tìm tòi sáng tác. Điều này rất khả quan vì thi tài đã xuất lộ nơi nhà giáo trẻ với những bài thơ mang đậm một cá tính sáng tạo như Vườn khuya (1940), Tới đây (1942), Bào Nghi Châu (1943)… Là đồng nghiệp cũng là bạn thơ rất thân của Khương Hữu Dụng, Trinh Đường, Lê Trí Viễn cũng chơi với nhóm thơ Bích Khê, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử…Phong cách thơ của Lê Trí Viễn tiếp tục phát triển sau cách mạng tháng Tám, từ các bài Xuân, Tuổi xanh Nam Bộ, Lúa (1947)…


    Ở chiến khu gian khổ, điều Lê Trí Viễn băn khoăn nhất không phải ở hay về mà là việc chọn con đường chuyên môn nào để phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân được tốt nhất. Với thi tài khá nổi bật, Lê Trí Viễn hoàn toàn có thể đi làm văn nghệ chuyên nghiệp. Ông tâm sự: “Với bằng tú tài thời ấy, dạy học tư và làm văn nghệ tốt. Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Lương Ngọc, Võ Nguyên Giáp… từng làm thế ở Hà Nội, Sài Gòn. Song kẹt nỗi đi chiến khu, người ta cần dạy học, thế là tôi dạy học mãi tới giờ…”.
    Chương trình “trung học chuyên khoa” (cấp 3 sau này) có môn khó là “Lịch sử văn học”. “Chỉ anh Hoài Thanh mới có thể dạy môn này!”, - GS Lê Trí Viễn nhớ lại. Tại chiến khu Tuyên Hóa (Quảng Bình), bằng trí nhớ và một ít tài liệu tham khảo thu thập được, Lê Trí Viễn đã trở thành “người viết văn học sử đầu tiên” kiêm giáo viên đứng lớp. Từ trường Phan Bội Châu tới trường Khải Định (sau đổi thành trường Huỳnh Thúc Kháng), Lê Trí Viễn tiếp tục viết bộ Lịch sử văn học Việt Nam - Thời đại Lê Mạt-Nguyễn Sơ. Đây là cuốn giáo trình văn học đầu tiên được viết theo quan điểm Mác xít ở Việt Nam. Theo lời tác giả, sách viết ra ở khu 4 song phải tới 1951, khi trở về công tác ở khu 5, dạy trường Lê Khiết, mới in ra được.


    Ở chiến khu, vừa dạy học, Lê Trí Viễn vừa sáng tác. Ông đã viết nhiều bài thơ, cả chục truyện ngắn, bút ký, in báo và tạp chí. Và cũng đã hai lần, nghiệp sáng tác văn chương lôi kéo thầy giáo-thi nhân này, song cũng hai lần, ngành giáo dục đã giữ chân ông lại. Lần thứ nhất năm 1946, khi lên chiến khu, “xin ở lại làm văn nghệ” nhưng ông Trần Quý Hai – tư lệnh Liên khu Tư, lại phân công đi dạy vì giáo dục cách mạng cần người. Lần thứ hai - năm 1955, khi tập kết ra Bắc, Chế Lan Viên, Nguyễn Xuân Sanh và Tế Hanh kéo qua “làm văn nghệ”, song ông Nguyễn Văn Hiếu – Giám đốc Nha Giáo dục khi ấy, thay vì ký đơn xin chuyển, lại ghi: “Anh phải về ĐHSP dạy, đang thiếu người lắm!”.


    Ngoài sáng tác và dạy học, nghiên cứu, GS-NGND Lê Trí Viễn còn là một dịch giả lớn. Với bút danh Dư Lê, ông đã dịch nhiều bài thơ yêu nước, chống thực dân Pháp của các chí sĩ Việt Nam cuối XIX – đầu XX, dịch giả một số tác phẩm văn học Pháp và Anh như tiểu thuyết nổi tiếng Những người khốn khổ của Victor Hugo… Dịch văn chương từ nhiều thứ tiếng như thế ở Việt Nam phải cỡ Phan Ngọc, song dịch thơ cho đáng bậc tài hoa như thế chắc chỉ có… chính ông - GS-NGND Lê Trí Viễn. Vâng, sống và làm nghề dạy học thì phải “tùy duyên”, song cái ông làm được là một lối đi riêng, rất đậm một phong cách tài hoa mang tên Lê Trí Viễn!

    Vũ Nguyên Anh

    (GD&TĐ)
    Lần sửa cuối bởi vntruongson, ngày 04-02-2012 lúc 09:10 AM.

  4. #3
    Dạn dày sương gió vntruongson's Avatar
    Ngày tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    570
    Post Thanks / Like

    Re: Nhà giáo nhân dân Lê Trí Viễn: Một đời dạy văn, một đời viết văn

    Nhà giáo nhân dân Lê Trí Viễn: Một đời dạy văn, một đời viết văn


    Click image for larger version

Name:	45235592-Thay-Vien--1.jpg
Views:	10
Size:	44.9 KB
ID:	2939

    Ngành Khoa học xã hội của nước ta hiện nay chỉ có 4 vị giáo sư ở độ tuổi gần 90 trở lên: GS Trần Văn Giàu (96), GS Vũ Khiêu (92), GS Lê Trí Viễn (90) và GS Hoàng Như Mai (89). Riêng GS Lê Trí Viễn là người có thời gian đứng trên bục giảng lâu năm nhất - 69 năm - cho đến tận hôm nay, khi ông 90 tuổi và đang là hiệu trưởng của một trường THPT tư thục tại TP.HCM.

    Từ điển Văn học bộ mới, trang 838 - 839 (NXB Thế giới, 2004) có mấy dòng vắn tắt chưa thật đầy đủ về ông: "Nhà giáo dục, nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học Việt Nam.(....). Nhà nghèo, chỉ được học hết cao đẳng tiểu học. Bắt đầu gắn bó với sự nghiệp giáo dục từ 1939, dạy trường tiểu học Bảo An (Điện Bàn, Quảng Nam). Tự học và đỗ tú tài Triết học (1945). Suốt đời ông là một quá trình công phu tự học cần mẫn, nghiêm túc. Ông lần lượt giảng dạy trung học thời kháng chiến chống Pháp (ở Huế, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi), đại học (từ 1958) và trên đại học (từ 1973). Ông làm chủ nhiệm khoa Ngữ văn trường ĐH Sư phạm Hà Nội trong 15 năm (1963 - 1978), sau đó chuyển vào giảng dạy tại ĐHSP TP.HCM, được Nhà nước phong chức danh Giáo sư (1980) và danh hiệu cao quý Nhà giáo nhân dân (1990)".

    Bản "lý lịch trích ngang" sơ sài ấy nói lên nhiều điều buộc thế hệ hậu sinh chúng tôi phải suy nghĩ để noi gương.


    Thứ nhất, trong non 70 năm làm nghề trồng người, ông đã kinh qua đủ các cấp từ tiểu học, trung học, ĐH, sau ĐH, từ lớp nhất ở trường quê nghèo Bảo An đến việc hướng dẫn thành công vài mươi thạc sĩ, tiến sĩ thuộc các trung tâm đào tạo chuyên ngành Ngữ văn ở Hà Nội, TP.HCM. Ở cấp học nào, dù tham gia giảng dạy ngắn hạn hay gắn bó lâu dài vài thập kỷ, ông đều để lại những kỷ niệm khó quên trong tâm trí vô số học trò.


    Thứ hai, để đảm đương nhiệm vụ giảng dạy ở những cấp học ngày càng cao, giáo sư đã nêu một gương sáng về công phu tự học, lặng lẽ kiên trì và quyết liệt. Tự học để đỗ thủ khoa kỳ thi tú tài Triết học năm 1945. Tự học để chiếm lĩnh những tri thức khoa học liên ngành, cần thiết cho việc giảng dạy và nghiên cứu văn học. Tự học để am tường sâu sắc những tác gia kiệt xuất, những nền văn học vĩ đại của nhân loại.


    Tự học, để từ cái vốn chữ Nho khiêm tốn được người cha truyền dạy thuở ấu thơ và trình độ tiếng Pháp còn hạn chế của bậc CĐ tiểu học, sau này ông nắm vững hai ngôn ngữ quan trọng bậc nhất ấy, tạo đà cho việc nghiên cứu văn học cổ, soạn hàng ngàn trang giáo trình Hán Nôm và chuyển ngữ hoặc góp phần chuyển ngữ hàng chục tác phẩm lớn của V.Hugo, H.Balzac, A.Dante, Lỗ Tấn và tác phẩm viết bằng chữ Hán của hai nhà văn Việt Nam Bùi Huy Bích, Phan Khôi.
    Tính đến nay giáo sư đã cho công bố 46 công trình. Ông tinh tế và tài hoa trong bình và giảng văn (Những bài giảng văn ở đại học - 1982, Bình thơ xuân - 1986, Tìm hương trong văn Hồ Chí Minh - 1986, Đến với thơ hay - 1997...). Với tư cách là thành viên của nhóm Lê Quý Đôn, ông là đồng tác giả của bộ Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam dày hơn 1.000 trang, gồm 3 tập (1958). Thời kỳ làm chuyên gia ở ĐH Bắc Kinh (Trung Quốc), ông viết và cho xuất bản tại chỗ bộ Một số vấn đề lịch sử Văn học Việt Nam (1961). Trong văn học Việt Nam, phần ông chuyên sâu nhất là văn học cổ điển. Các tác gia lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến... được ông quan tâm đặc biệt và là đối tượng khảo sát của nhiều công trình ngắn có, dài có. Trên cơ sở "thâm canh" ấy, ông đã có hai chuyên luận quan trọng mang giá trị khái quát cao: Đặc trưng Văn học trung đại Việt Nam (1996), Quy luật phát triển của lịch sử Văn học Việt Nam (1998).


    Thứ ba, cũng như những giáo sư học giả nổi tiếng khác, ông đã hình thành cho mình trong nhiều chục năm liền sự gắn kết cần thiết giữa giảng dạy và nghiên cứu. Bộ Lê Trí Viễn toàn tập gồm 7 cuốn, non 6.000 trang khổ lớn là tập đại thành của những ngày ông miệt mài bên bàn văn, kể cả 15 năm làm chủ nhiệm khoa Văn - một khoa lớn, đông hàng ngàn sinh viên - trong đó có non 10 năm sơ tán hết lên núi rừng Việt Bắc lại về với đồng ruộng Hưng Yên.
    Sẽ là một thiếu sót quan trọng, nếu không đề cập tới những thành công của ông trong lĩnh vực sáng tác. Hàng chục truyện ngắn và ký đăng trên các tạp chí văn nghệ của Liên khu IV (Thương nữ, Thư nhà, Núi che mặt trời, Trường học Lương Sơn Bạc...). Qua đó có thể thấy niềm vui và lòng tin của tác giả trước chất "lãng mạn và khí phách Việt Nam kháng chiến".
    Thơ cũng là nơi đặc biệt cuốn hút ông và đó chính là lĩnh vực bộc lộ năng khiếu thẩm mỹ của ông. Có lúc ông làm ta ngạc nhiên khâm phục về vẻ tài hoa tài tử qua bài Đêm ấy, đêm này.


    Đêm Thúy Kiều sang nhà Kim Trọng
    Nguyễn Du tắt bớt trăng và vặn thấp ngọn đèn
    Anh đến với em đêm thần tiên ấy
    Trăng với đèn chếnh choáng hơi men

    Thế nhưng nhiều câu thơ chân mộc, chắt lọc và lắng đọng lại ngân vang rất lâu. Chẳng hạn bài thơ viết gần đây, trong dịp ông đưa cả đại gia đình từ TP.HCM và Hà Nội về thăm nơi chôn nhau cắt rốn. Quê đấy nhưng nhà đâu, bà mẹ nghèo tần tảo nơi đâu... Ở tuổi 86, nhà thơ đã nghẹn ngào, xúc động:

    Có quê mà chẳng có nhà,

    Đành đem giấc ngủ gửi bà con thôi
    Nửa đêm sực tỉnh bồi hồi,
    Mẹ ơi, con chết nửa người, mẹ ơi!



    Ngày 10.3 âm lịch, giáo sư Lê Trí Viễn bước vào tuổi 90. Tôi và các thế hệ học trò khác tự hào về thầy. Càng mừng hơn vì tuy tuổi đã cao nhưng trí thầy vẫn sáng, ngọn lửa nhiệt tình với Giáo dục và Văn học vẫn sục sôi như ngày nào.


    Trần Hữu Tá


    (báo Thanh Niên)
    Lần sửa cuối bởi vntruongson, ngày 04-02-2012 lúc 09:32 AM.

  5. #4
    Dạn dày sương gió vntruongson's Avatar
    Ngày tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    570
    Post Thanks / Like

    Re: Nhà giáo nhân dân Lê Trí Viễn: Một đời dạy văn, một đời viết văn

    Đêm ấy đêm này

    Đêm Thúy Kiều sang nhà Kim Trọng
    Nguyễn Du tắt bớt trăng và vặn thấp ngọn đèn
    Anh đến với em đêm thần tiên ấy
    Trăng với đèn chuếnh choáng hơi men



    ...

    Dạy văn lấy cảm làm đầu
    Suốt đời tôi chỉ có một câu dặn mình
    Dạy văn dạy nghĩa dạy tình
    Dạy văn mà cũng dạy mình dạy ta
    Tình gần muốn gửi cho xa
    Mai sau đi dạy ngẫm ra lời này.



    (tác giả LÊ TRÍ VIỄN)


    Một người thầy giáo tốt, trước hết phải là một người có đạo đức tốt

    (Giáo sư - nhà giáo nhân dân Lê Trí Viễn)

    Tôi bắt đầu dạy học từ năm 20 tuổi. Khi đó, tôi học xong hệ cao đẳng tiểu học rồi học tiếp một năm sư phạm nữa ở Huế và ra đi dạy. Cả Trung bộ hồi ấy chỉ có một trường cấp ba và ba trường cấp hai (ở Huế, Vinh và Quy Nhơn). Tốt nghiệp ra trường, tôi về Quảng Ngãi làm thầy giáo ở một trường tiểu học. Tính từ đó đến giờ, tôi đã dạy học 70 năm rồi.


    Ngay từ đầu, tôi đã không xem công tác nghiên cứu văn nghệ như một cái nghề. Niềm đam mê dẫn dắt tôi đến với văn chương. Và trong suốt 70 năm qua tôi vẫn tiếp tục đọc và học để tích lũy kiến thức cho mình và để tự thoả lòng.
    Với tôi, một người thầy giáo khi đứng lớp đã phải có ý thức học tập nghiên cứu rồi. Có như vậy, mình mới tự tin với nghề và truyền đạt được nhiều điều bổ ích cho học trò. Ngay từ khi còn là giáo viên tiểu học, tôi đã tích cực đọc sách, nghiên cứu. Tôi nỗ lực như vậy một phần cũng vì tôi muốn lấy cho được bằng Tú tài 2 và phấn đấu làm văn nghệ. Tôi tự học là chính chứ không ép buộc gì bản thân. Tôi nghiên cứu các sách Hán cổ, Hán hiện đại, tiếng Pháp và cả tiếng Anh. Việc nghiên cứu là một hoạt động rất tự nhiên gắn với nghiệp dạy học của tôi mà thôi. Hơn nữa, trong thời đại bây giờ, tôi thiết nghĩ người giáo viên càng cần trau dồi kiến thức cho mình mới mong đổi mới được công tác giảng dạy theo yêu cầu thực tiễn.


    Theo tôi, một người thầy giáo tốt, trước hết phải là một người có đạo đức. Điều này sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến việc dạy dỗ học trò. Đức ở người thầy không giống đức ở chỗ khác. Đối với người làm văn nghệ thì đức thể hiện ở khả năng viết hay và sống sâu. Họ phải cố gắng sống đã đầy với mọi kích thước của hiện thực, xông pha vào những lĩnh vực phức tạp và đa dạng để hiểu về đời sống, về tâm lý con người. Có như vậy mới viết nổi sách. Còn người thầy thì không được phép để mình quá phóng túng. Anh có thể có những ham mê riêng, có thể có chút máu nghệ sĩ trong người, nhưng trước mặt học trò anh chớ mà hư. Làm thầy không phải là một việc dễ dàng vì người thầy phải luôn giữ được sự gương mẫu, mực thước trước mặt học trò. Bây giờ đời sống đã khá hơn lúc trước rồi, nhiều thầy cô đã có điều kiện kinh tế khá tốt. Tôi không nói họ không được phép hưởng thụ những thành quả lao động của mình. Nhưng dù sao vẫn phải đúng mực. Anh có quyền sang nhưng không nên chướng, không nên khác người.
    Và người làm thầy cũng phải luôn tôn trọng học trò của mình. Anh giữ gìn đạo đức bản thân là đã thể hiện sự tôn trọng đó rồi. Nhưng anh còn phải thương yêu và gần gũi với học trò của mình. Khi đó, học trò sẽ đáp lại anh bằng tình cảm kính trọng và quý mến. Nên nhớ rằng, học trò có những hiểu biết nhất định của chúng và người thầy phải luôn quan tâm đến điều đó.


    Thời đại đã đổi thay nhiều, trẻ con bây giờ có nhiều điều kiện phát triển hơn hồi trước nhưng cũng dễ hư hơn. Ngay như cứ giữ bọn trẻ ở nhà cũng khó tránh cho chúng khỏi những lệch lạc, bởi bây giờ ngồi một chỗ người ta cũng tiếp xúc được với đủ thứ qua Internet, truyền hình, sách báo, phim ảnh…Hơn nữa, việc dạy dỗ trong nhà trường cũng cần phải đổi mới nhiều để giúp học trò có thể độc lập suy nghĩ và sáng tạo hơn. Vì vậy, quan hệ thầy trò bây giờ nói là khác thì cũng có điểm khác hồi trước.

    Phương châm dạy học của chúng tôi nằm gọn trong 12 chữ “Dạy cả lớp, dạy, dạy nghĩ; cả lớp học, nghĩ mới học”. Chúng tôi muốn tận tâm uốn nắn các em bằng tình thương và cả phương pháp dạy một cách khoa học. Đồng thời muốn các em học bằng chính khả năng và sự tự giác của mình. Các em càng yếu thì mình càng phải cố gắng giúp các em …




    Theo tôi, người làm cha mẹ phải tránh 3 điều:
    - Tránh làm tất cả những gì không tốt trước mặt con cái.
    - Không quá nuông chiều con cái.
    - Không tập cho con lối sống đua đòi và hoang phí; mà phải biết quý trọng những giá trị của lao động.


    Theo tôi, có hai loại sách mà mỗi người cần phải đọc. Một là những sách phục vụ cho công tác chuyên môn của mình. Hai là những quyển sách có giá trị tạo nền tảng văn hóa, đặc biệt là những sách văn chương (tôi nhấn mạnh là những sách văn chương). Bởi chúng đúc kết tinh hoa của tâm hồn nhân loại, của dân tộc và dạy cho ta những lẽ sống cao cả trong cuộc đời.



    Tôi vẫn muốn sống cuộc đời của mình, sống theo cách của mình. Có đôi khi tôi vẫn nghĩ, ở một cuộc đời khác, tôi sẽ trở thành một người nghệ sĩ, nhưng là một người nghệ sĩ kiểu thầy giáo …

    (sưu tầm)

    Lần sửa cuối bởi vntruongson, ngày 04-02-2012 lúc 09:56 AM.

+ Trả lời Chủ đề
Thông tin về chủ đề này Thông tin về chủ đề này
Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

     

Các Chủ đề tương tự

  1. Giảng viên 29 tuổi là phó giáo sư trẻ nhất năm nay
    Bởi hoahamtieu trong diễn đàn Tin trong nước
    Trả lời: 0
    Bài viết cuối: 10-11-2011, 11:12 AM
  2. Giả nhân viên vào văn phòng trộm laptop
    Bởi jerry trong diễn đàn Tin trong nước
    Trả lời: 2
    Bài viết cuối: 30-09-2011, 09:13 PM
  3. [Tuyển dụng] Tuyển giáo viên dạy tiếng Nhật,trực văn phòng
    Bởi darapark trong diễn đàn Quảng cáo khác
    Trả lời: 0
    Bài viết cuối: 28-09-2011, 04:29 AM
  4. Tiếng Anh cho nhân viên văn phòng
    Bởi blueocean0909 trong diễn đàn Chia sẻ kinh nghiệm
    Trả lời: 0
    Bài viết cuối: 10-11-2009, 04:21 PM
Quyền viết bài
  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình