立春
LẬP XUÂN
立春,二十四节气第一个节气,指太 阳 到 达 黄经315°时,为公历每年2月3至5日之间,表示着春天的开始,也是一年 的 真 正 开始,人们的属相就是以立春 作 为 起 始 点 的。从这 一 天 一 直到立 夏 这 段 期 间,都被称为春天。
Lập xuân, một trong tiết khí đầu tiên trong 24 tiết khí, chỉ lúc kinh độ mặt trời ở 315°, là khoảng ngày 3 – ngày 5 tháng 2 hằng năm, biểu thị dấu hiệu bắt đầu của ngày xuân, cũng là ngày chính thức bắt đầu của một năm, tuổi của người đời cũng được tính bắt đầu từ ngày này. Giai đoạn từ ngày này đến lập hạ thì được gọi là mùa xuân.
中国各地
Các vùng ở Trung Quốc
鞭春
Tiên Xuân (Đánh thức mùa xuân)
由古代的祭春典礼演变,大约从汉 朝 开 始,京府与各州、县官府会于立 春 前 一 日,于正门前东、西侧放置用泥土塑造的耕人与耕牛像,藉以象征春 天 来 临 , 提 醒农民准备春耕。起初只 是 静 态 的 陈 列,后来演变成「鞭打春牛」 的 活 动 , 土塑的耕人改由活人扮演成勾芒 神 所 代 替,勾 芒 神 身 穿 绿色衣服,手 执 杨 柳 或 丝杖鞭打土牛,示意唤醒牛只 准 备 耕 作,是谓「鞭春」。官 吏 鞭 春 后 ,民 众会争夺春牛身上的土片, 撒 在 自 家 田 地 中,信仰当年会丰收。
Diễn biến từ việc cúng tế ngày xuân thời xưa, được bắt đầu vào khoảng thời nhà Hán, ở kinh phủ và các châu, quan huyện phủ hội trước lập xuân một ngày, lấy đất sét nặn tượng con trâu và người cày ruộng để ở phía đông và tây của cửa chính, là để tượng trưng cho ngày xuân đã đến, đánh thức người dân chuẩn bị việc canh tác vào muà xuân. Khởi đầu chỉ trưng bày yên lặng, sau này phát triển thành hoạt động “Tiên đả xuân ngưu”, xoá bỏ hình tượng người cày ruộng làm bằng đất sét và thay thế bằng hình ảnh thần mùa xuân do người thật đóng giả, thần muà xuân mặc áo màu xanh lá, tay cầm cây dương liễu hoặc cây roi nhỏ quất trâu đất, biểu thị đánh thức con trâu chuẩn bị cho việc canh tác, được gọi là “Tiên Xuân” (đánh thức mùa xuân). Quan lại sau khi tiên xuân, dân chúng sẽ tranh giành những vết đất trên lưng con xuân ngưu, mang về đất trồng của nhà mình, tin rằng năm đó sẽ được bội thu.
咬春
Giảo Xuân (cắn mùa xuân)
于立春当天,用饼皮包裹生菜 , 做 成 春 饼 或 春 卷,大家分食,祈 求 身 体 健 康 , 称之为「咬春」。
Vào ngày lập xuân, lấy vỏ bánh gói rau sống, làm bánh xuân hoặc chả giò, mọi người chia nhau ăn, cầu mong được dồi dào sức khỏe, được gọi là “Giảo Xuân”.



Trả lời kèm Trích dẫn