+ Trả lời Chủ đề
Trang 1 của 3 1 2 3 CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 24

Chủ đề: Văn hoá làng của người Việt

  1. #1
    Vượt ngàn trùng sóng yenminh0210's Avatar
    Ngay tham gia
    Apr 2009
    Bài viết
    2,790

    Văn hoá làng của người Việt

    Văn hóa làng Việt Nam hôm qua và hôm nay




    Nói đến văn hóa Việt Nam thì phải nói đến văn hóa làng, xã ở miền xuôi và văn hóa buôn làng (bản làng) ở miền núi. Điều này thật dễ hiểu: do vị trí địa lý - khí hậu, mà nghề truyền thống cơ bản nuôi sống con người Việt Nam trong suốt mấy nghìn năm là nghề nông nghiệp lúa nước...


    Nhìn từ truyền thống

    Văn hóa làng Việt truyền thống rõ nét nhất là văn hóa làng Việt Bắc Bộ. Làng Việt Bắc Bộ là nơi bao đời nay cư dân Việt cư trú, lao động, sản xuất và tổ chức mọi sinh hoạt văn hóa, sinh hoạt tinh thần; đồng thời là nơi cố kết quan hệ dòng tộc, xóm giềng. Làng là mô hình để người xưa theo đó mà mở rộng ra xây dựng tổ chức quốc gia, đô thị. Làng còn là pháo đài để chống giặc ngoại xâm cùng mọi yếu tố ngoại lai, bảo vệ sự bình yên cho dân tộc, cho đất nước. Văn hóa làng chính là hệ thống những giá trị hình
    thành qua bao đời trong toàn bộ các hoạt động đó, và đến lượt mình, nó cũng chính là công cụ, là phương tiện tổ chức và duy trì toàn bộ các hoạt động này. Nó đi vào ký ức người Việt Nam bằng hàng loạt những giá trị vật chất và tinh thần rất gần gũi và thân thương.

    Thế giới đầy mầu sắc của văn hóa làng được quy ước thành lệ làng, đúc kết trong hương ước làng, bộc lộ một cách phong phú qua hội làng. Tất cả chắt lọc lại, tạo nên bản sắc văn hóa làng, mà trong đó tính cộng đồng làng và tính tự trị của làng là những giá trị nổi trội nhất. Bên cạnh đó còn là các phẩm chất quan trọng khác như: tính ưa hài hòa, khuynh hướng thiên về âm tính (mà tính trọng tình, hay tình làng là một biểu hiện của nó), tính tổng hợp và tính linh hoạt.
    Trải qua các thời kỳ lịch sử của dân tộc, văn hóa làng Việt đã chứng tỏ sức sống mãnh liệt của mình. Sau lũy tre làng, bên giếng làng, dưới mái đình làng, trong bầu khí thân thương của những ngày hội làng, mọi người sống với nhau nặng tình nặng nghĩa, giúp đỡ nhau lúc tắt lửa tối đèn. Tình làng nghĩa xóm, quan hệ láng giềng ràng buộc con người trong nếp sống làng, xã có kỷ cương, trong sáng và thanh cao.

    Văn hóa làng Việt thời nay

    Mặc dù văn hóa làng đã trở thành bản sắc, thành một hằng số của văn hóa Việt Nam, nhưng theo thời gian, không có cái gì là không biến đổi. Với cuộc sống đang hiện đại hóa, với xã hội đang công nghiệp hóa và đô thị hóa, với thế giới đang toàn cầu hóa và hội nhập, hàng loạt 'trai quê', 'gái quê' Việt Nam đã đi vào thành phố, đi ra nước ngoài. Quần jeans, áo pull, nước giải khát coca-cola, và cả nạn bạo lực cùng nhiều tệ nạn xã hội khác đang thâm nhập vào từng thôn xóm, làng bản. Văn hóa làng trong đời sống nông thôn Việt Nam hôm nay đang biến đổi rất nhanh chóng, mạnh mẽ và sâu sắc. Cái tốt hiển hiện, cái xấu cũng bộc lộ rõ nét hơn.
    Văn hóa, văn minh làm hình thành phong cách sống, phong cách tư duy. Nhìn ra nước ngoài, ta càng thấy rõ hơn đặc điểm tư duy của người làm nông nghiệp Việt Nam và Đông-Nam Á. Đó là tính linh hoạt, mềm dẻo, nhiều khi đến mức tùy tiện, thiên về tình cảm. Đố kỵ cào bằng là tâm lý phổ biến của lối sản xuất nhỏ, trong khi đó tinh thần cạnh tranh lành mạnh thì yếu kém. Phong cách tư duy thiên về phân tích, lối sống chặt chẽ, rành mạch... là cái rất cần cho xã hội công nghiệp, đó lại là cái mà người Việt Nam rất thiếu.
    Hiện nay, hội nhập quốc tế là một quá trình tất yếu. Xét về bản chất thì hội nhập là một quá trình tương tác mang tính hai chiều, nhưng trên thực tế thì kinh tế và kỹ thuật đang nắm phần ưu thế, nên hội nhập hiện nay chủ yếu là phương Đông tham gia vào một thế giới tổ chức theo kiểu phương Tây, trong đó Nhật Bản là nước đi đầu. Sự hội nhập hiện nay đòi hỏi những phẩm chất của một nền văn hóa công nghiệp với những tác phong công nghiệp, thích hợp với lối sống đô thị. Những đòi hỏi này quả là rất xa lạ với truyền thống văn hóa làng, xã của Việt Nam, do vậy văn hóa Việt Nam cần phải có sự giao lưu tiếp xúc với văn hóa thế giới. Nhưng theo tôi, không phải vì thế mà chúng ta phải từ bỏ, phải thoát ra khỏi nền tảng văn hóa làng.
    Trong bản sắc văn hóa làng, cũng là bản sắc của văn hóa Việt Nam, những gì đến bây giờ vẫn còn giá trị thì vẫn cần phải giữ lại. Tất nhiên, điều quan trọng là phải hiểu cho đúng khái niệm 'bản sắc văn hóa dân tộc'. Không phải cứ áo dài khăn đóng mới là dân tộc. Nhưng việc gì mà ta phải từ bỏ lối sống tình nghĩa 'thương người như thể thương thân'? Việc gì mà ta phải từ bỏ tính linh hoạt? Chính tính linh hoạt này làm cho con người khác với một cỗ máy. Có cần bỏ chăng là bỏ cái xấu. Trước đây, trong xã hội nông nghiệp với cuộc sống giới hạn trong phạm vi làng, xã mấy trăm người, mọi người đều biết rõ nhau thì cái xấu không gây tác hại nhiều lắm. Nhưng nay khi tiếp xúc với văn hóa thế giới, khi có sự 'đụng độ' văn hóa thì cái xấu cũ trỗi dậy, cái xấu mới len lỏi tràn vào. Mọi hiện tượng nảy sinh trong xã hội, từ nạn bạo hành trẻ em đến nạn tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực khác - tất cả đều có nhiều nguyên nhân, nhưng quan sát và phân tích của chúng tôi cho thấy rằng phần lớn các nguyên nhân đều có nguồn gốc ở cái tốt và cái xấu nảy sinh từ văn hóa làng, xã người Việt.
    Người Việt cần gìn giữ những nét bản sắc tốt đẹp của văn hóa làng, nhưng đồng thời cần phát huy ý thức xã hội, tinh thần trách nhiệm, tạo điều kiện để con người cá nhân phát triển, hướng đến một xã hội dân chủ hài hòa, sống tôn trọng pháp luật kỷ cương. Tính sáng tạo, linh hoạt truyền thống của người Việt Nam cần giữ lại, song cần chấm dứt thói tùy tiện.
    Chỉ có như vậy mới thoát ra khỏi tầm nhìn hạn hẹp của văn hóa làng, xã tiểu nông, để trên cơ sở đó gìn giữ và phát huy được những giá trị tinh hoa của văn hóa làng, xây dựng được văn hóa đô thị Việt Nam và không để xảy ra tình trạng văn hóa đô thị bị nông thôn hóa trở lại.
    Theo Nhân Dân




  2. #2

    Re: Văn hoá làng của người Việt

    Ngôi chùa làng và Văn hoá làng


    Bất cứ người Việt nào cũng có, và cần có, một vùng quê để thương để nhớ. Thật bất hạnh cho ai đó không có được một “vùng thương nhớ” ấy trong hoài niệm tuổi thơ. Mà đã là hoài niệm, thì cho dù nơi ấy có cơ cực tủi nhục đến đâu, có xơ xác lam lũ thế nào, có để lại những dấu ấn buồn đau đến mấy, thì vẫn có sức gọi dậy những vang bóng một thời đầy ắp những kỷ niệm mông lung, ấm áp. Về làng, ta về làng, hai tiếng ấy giục giã đến nao lòng những người vì cuộc mưu sinh, vì một sự nghiệp phải xa quê. “Ai về làng cũ hôm nay, Thư này đưa hộ cho thày mẹ tôi. Con đi mười mấy năm trời, Một thân bé bỏng, nửa đời gió sương…Con đi năm ấy tháng tư, Lúa chiêm xấp xỉ giỗ từ tháng ba. Con đi quạnh cửa quạnh nhà, Cha già đập lúa, mẹ già giũ rơm. Cha dậm gạo, mẹ vần cơm. Có con, con vắng, ai làm thay cho ” (Nguyễn Bính).Mà đã về làng thì làm sao có thể không nhớ đến ngôi chùa làng. “Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt”. Chùa làng thường gắn với đình làng, một bộ sóng đôi trong tâm thức người Việt, nhưng quan trọng hơn, nó thể hiện sinh động triết lý nhân sinh và tinh thần khoan dung hoà hợp trong đời sống tín ngưỡng của dân tộc. Ngôi chùa làng đáp ứng một nhu cầu rất sâu đậm của đời sống thôn dã, là sự cân đối trở lại nét bất bình đẳng nặng nề trong sinh hoạt cộng đồng làng quê xưa. Nếu ở đình làng, ngoài những ngày sóc vọng lễ tiết có “hội làng mở giữa mùa thu, giời cao gió cả giăng như ban ngày ” mà cả dân làng đều tụ hội, thì thông thường, chốn đình trung chỉ dành cho các quan viên bàn “việc làng”, người phụ nữ không được can dự. Cho nên ngôi chùa làng lại là nơi dành cho họ, các cụ, các bà, các cô thôn nữ, và đương nhiên trẻ em được theo bà, theo mẹ, theo chị đến chùa. “Trẻ vui nhà, già vui chùa”, trẻ cũng được theo già để được “vui chùa”.Vì vậy, nếu “cái đình là trung tâm của làng. Làng nào cũng có đền thờ ông thần hoàng. Đình được cất cao ráo khang trang, thế tất theo phong thủy, nơi phong quang nhất làng ” theo như sự miêu tả nhà văn Tô Hoài trong Chuyện cũ Hà Nội, thì chùa làng thường được cất nơi thanh vắng, tịch mịch, không câu nệ là ở góc làng, là ở ven làng hay ở trung tâm. Đúng hơn, ngôi chùa làng dù toạ lạc ở vị trí nào nơi thôn cùng xóm vắng thì nó vẫn hiện diện vừa thân thiết gần gụi, vừa huyền ảo lay động cõi tâm linh, một góc khuất trong đời sống tinh thần của người làng quê. Xin hãy trở lại với vang bóng của một thời để khơi gợi một nét văn hoá làng quê được thăng hoa trong thơ Nguyễn Bính: “Trên đường cát mịn một đôi cô. Yếm đỏ khăn thâm trẩy hội chùa. Gậy trúc dắt bà già tóc bạc. Tay lần tràng hạt miệng nam mô”?Phải chăng đây chỉ là hoài niệm về một vùng thương nhớ, quyến rũ mà dường như đã một đi không trở lại, khi mà tiến trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá được đẩy tới, mà ai đó trong cái nhìn thiển cận ăn xổi ở thì, cứ ngỡ như chỉ muốn đưa chuyện thi “người mẫu” thi “hoa hậu” lượn lờ khoe các vòng eo thay cho “yếm đỏ khăn thâm trẩy hội chùa”! Người ta quên mất rằng, do đời sống kinh tế được cải thiện, nhiều gia đình nông thôn đã sắm được chiếc tivi, nhà chưa sắm được thì đêm đêm có thể xem nhờ hàng xóm. Kinh tế có cải thiện, nhưng lối sống chưa mấy đổi thay, thị hiếu thẩm mỹ đi liền với phong tục tập quán của gần hai phần ba dân số sống ở nông thôn sẽ ngỡ ngàng như thế nào khi được thường xuyên “tiếp sóng” những lượn lờ vòng eo và áo tắm 3 mảnh rất chi là mùi mẩn, sẽ “phát huy tác dụng” như thế nào? Người ta quên mất rằng văn hoá không phải là mì ăn liền, văn hoá được hình thành theo quy luật thẩm thấu, việc ăn tươi nuốt sống những sản phẩm văn hoá không tương thích với môi trường sống và phong tục tập quán chưa đổi thay sẽ gây độc hại nhiều hơn là thêm dưỡng chất. Đấy là chưa nói đến việc vì chưa cẩn trọng và thiếu hiểu biết, người ta đã vô tình chuyển tải những cặn bã văn hoá mà xã hội văn minh đã loại thải vì chán ngấy. Và rồi như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều phải thảng thốt kêu lên: “Những nền tảng của văn hoá truyền thống ở các làng quê đã biến dạng và bị phá vỡ. Cái quan hệ hàng xóm láng giềng có được trong truyền thống tốt đẹp lâu đời của văn hoá làng Việt Nam mỗi ngày một mất đi những vẻ đẹp và tính nhân văn của nó. Làng quê Việt Nam bây giờ “ông chẳng ra ông thằng chẳng ra thằng”. Phố cũng không phải phố mà làng cũng không phải là làng”. (Vietnamnet 20.8.2008) Vì thế trên một tờ báo điện tử này đã cất lên tiếng gọi hồn: “Làng tôi bây giờ ở đâu? Biết bao nhiêu người đã đứng lặng và cất lên câu hỏi đó... Hồn vía của làng đang bỏ cái làng địa lý ra đi giống một linh hồn đã rời bỏ thể xác... đây không phải là một dự báo mà là một hiện thực. Khi chúng ta đánh mất hồn vía của làng là chúng ta mất làng. Và nói rộng hơn là chúng ta đánh mất văn hoá. Khi văn hoá không còn thì chúng còn gì nữa đâu. Hỡi hồn vía làng quê ở đâu hãy về!”Thật ra, ngẫm nghĩ kỹ, cái hồn vía làng quê ấy từng được gìn giữ bằng xương máu của bao thế hệ để giữ làng, giữ nước. Trong trường kỳ dựng nước và giữ nước, người Việt hiểu rõ làng và nước gắn làm một, và nét độc đáo của truyền thống Việt Nam là làng còn thì nước còn. Thì chẳng thế sao, nhiều lần ông cha ta dám bỏ ngỏ kinh đô Thăng Long, thế kỷ 13 chống đế quốc Nguyên Mông, thế kỷ 15 chống quân xâm lược nhà Minh, thế kỷ 18 chống quân xâm lược nhà Thanh, thế kỷ 20, Hà Nội bị thực dân Pháp quay trở lại chiếm đóng. Và quân dân đời Trần, đời Lê, đời Quang Trung và thời đại Hồ Chí Minh dựa vào làng để tích tụ sức người, sức của rồi chiếm lại thủ đô, lấy lại nước.Trong truyền thống kháng chiến qua các thời đại, ngôi chùa làng bao giờ cũng là nơi nuôi dưỡng chở che người yêu nước. Ngay trong cái bảng lảng của một cảm thức mơ hồ về lòng yêu nước mà Tự Lực Văn Đoàn của một thời gợi nhớ, thì ngôi chùa trong Tiêu Sơn tráng sĩ của Khái Hưng không phải là không để lại trong ký ức của ai đó một thoáng đăm chiêu về đất nước dưới ách nô lệ! Một bóng dáng khác, dữ dội hơn nhưng cũng đằm thắm, sâu nặng hơn về ngôi chùa làng, xin được gợi lên trong tác phẩm của Xuân Cang: Nụ hoa cau. Xuất bản cách đây hơn mười năm, nhà văn có kể lại một chuyện cảm động về ngôi chùa làng ở Kẻ Sủi: một cô du kích gan dạ, từng gánh rơm đốt nhà vãi của ngôi chùa làng ấy để làm hiệu lệnh cho tiêu thổ kháng chiến, khi hoà bình được lập lại, làng của cô đi vào hợp tác, cô đã quyết không chịu biến chùa thành trại chăn nuôi của hợp tác xã. Rồi, cô “chết thảm thương lắm. Nó chất đầy hoa huệ, đóng kín cửa phòng lại. Người ta bảo nó tự tử vì tình... Ngồi trước nấm mồ chưa xanh cỏ, chị tôi nói: “Cái người nằm dưới này ấy mà, không phải chết vì tình đâu. Mà vì người ta bảo cô lập một trại chăn nuôi ở ngay trong vườn chùa. Cô đã chối. Cô tâm sự với chị rằng chùa là nơi thiêng liêng, bát ngát hương hoa, nơi ấy lại có đền có giếng, ngày xưa sớm chiều có tiếng chuông ngân làm dịu lòng người. Ngày trước kháng chiến, đốt chùa làm hiệu lệnh, nó đi một nhẽ. Nay khác. Cô không nỡ biến chùa thành nơi ô uế. Cô sợ rằng làm thế làng ta sẽ không ngóc đầu lên được. Cô thà chết. Người ta đã kết cho cô đủ tội. Và cứ lập trại chăn nuôi. Khổ thế đấy em ạ. Chị đã ẵm cô ấy ra khỏi phòng, người cứ bợt bạt đi. Và đẫm một mùi hương huệ ” (tr.22)Đó là một câu chuyện thật dữ dội về ngôi chùa làng. Và vì chùa làng và đình làng như bộ sóng đôi trong tâm thức người Việt, xin dẫn tiếp một chuyện kể về cái đình làng.Với sự nhạy cảm của một nhà thơ, cách đây khá lâu Nguyễn Duy đã từng xao xuyến nâng máy ảnh chụp ngôi đình nổi tiếng ở quê anh, đình làng Gia Miêu ở Tống Sơn Thanh Hoá tiêu điều, tàn tạ. Vừa rồi, trên báo lại có đề cập đến chuyện ngôi đình này: “Vua Gia Long cho xây đình Gia Miêu thờ tiên hiền Nguyễn Công Duẩn - một bậc công thần của Lê Lợi thưở khởi nghĩa Lam Sơn, khởi đầu cho công tích họ Nguyễn từ mảnh làng Gia Miêu trở thành một vương triều lớn trong lịch sử Việt Nam ”. Và rồi “ đình Gia Miêu đẹp và thiêng liêng bậc nhất đất Tống sơn - Quý huyện, vậy mà chỉ mới năm 1997 đây thôi nhà thơ Nguyễn Duy về thấy một góc đình thiêng đã sụt, trên cột đình ai đó viết dòng chữ thu mua bèo và ốc để nuôi cá. Ông và nhà văn Nguyễn Khải thắp nhang mà chả biết cắm vào đâu, bèn sắp mấy viên ngói vỡ lên cao một tí làm bàn thiên cắm mấy nén nhang tưởng niệm. Năm 1999 đình Gia Miêu được trùng tu ” (Tuổi Trẻ 20.10.2008).Trùng tu, đúng, phải trùng tu ngôi đình. Nhưng trước hết có lẽ phải “trùng tu” cái đầu còn hời hợt trong suy nghĩ về di sản của ông cha để lại. Trên non sông gấm vóc này từng có bao nhiêu di sản như vậy bị tàn phá và nay vẫn đang còn bị tàn phá một cách tàn nhẫn và quyết liệt do nhiều nguyên nhân. Ấy thế mà cũng về ngôi đình này, xin được gợi lên đây một sự kiện thật có ý nghĩa do nhà thơ Nguyễn Duy kể lại.Nhân tham gia Hội thảo Khoa học về Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn tại Thanh Hoá, tác giả của bức ảnh chụp đình Gia Miêu tàn tạ, đổ nát năm 1997 đã đến thăm lại đình Gia Miêu vừa được trùng tu, anh được biết thêm rằng: theo ký ức của một số cụ già địa phương thì tháng 2 năm 1947, nghĩa là chưa đầy 3 tháng sau ngày Toàn quốc Kháng chiến 19.12.1946, thay vì từ Chùa Thày ở Sơn Tây đi ngay lên Việt Bắc, thủ đô kháng chiến, Bác Hồ quyết định về thăm Thanh Hoá. Trước khi đến nói chuyện với “các đại biểu thân sĩ, trí thức, phú hào tỉnh Thanh Hoá” (Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 5, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995, tr. 57), Bác Hồ đã đến thắp hương ở đình Gia Miêu và lăng miếu Triệu Tường. Một sự kiện mà càng suy ngẫm càng thấm thía tầm cao tư duy của lãnh tụ, một cốt cách văn hoá vượt hẳn lên cái nhìn trực quan hạn hẹp để thấu vào cốt lõi của lý tưởng giải phóng dân tộc và mục tiêu cao cả của sự nghiệp cách mạng.Không một tấm lòng Việt Nam yêu nước thương nòi nào không xúc động về hình ảnh Bác Hồ tại Đền Hùng năm 1954 với câu nói bất hủ: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cố gắng giữ lấy nước”. Rồi vào thời điểm cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc vừa bắt đầu Bác đã về thăm đền thờ Nguyễn Trãi ở Côn Sơn ngày 15. 2.1965. Hình ảnh từng có sức lay động mãnh liệt về sự gắn kết giữa truyền thống với hiện đại, về sự hiện diện của ông cha trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước hôm nay, đó là hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tấm bia Côn Sơn Tư Phúc tự bi vào dịp ấy. Có hiểu về điều này mới hiểu ý nghĩa sâu sắc của việc Bác Hồ ký sắc lệnh về bảo vệ di sản đúng hai tháng sau ngày Nam Bộ kháng chiến 23.9.1945. Sắc lệnh đó ghi rõ: “Cấm phá huỷ những đình, chùa, đền, miếu hoặc những nơi thờ tự khác, cung điện, thành quách cùng lăng mộ chưa được bảo tồn. Cấm phá huỷ những bi ký, đồ vật, chiếu sắc, văn bằng, giấy má, sách vở có tính cách tôn giáo hay không, nhưng có ích cho lịch sử mà chưa được bảo tồn”. Và sẽ càng hiểu sâu đậm hơn khi đặt cạnh Sắc lệnh số 65 ngày 23.11.1945 nói trên cái “Sắc chỉ” của Minh Thành tổ gửi viên tướng viễn chinh Chu Năng cách đó 539 năm, ngày 21.8.1406: “Một khi binh lính vào nước Nam, trừ sách vở và bản in của Đạo Phật, đạo Lão thì không thiêu huỷ, ngoài ra, hết thảy mọi sách vở văn tự, cho đến những loại ca lý dân gian hay sách dạy trẻ nhỏ, loại sách có câu “ thượng đại nhân, khưu ất kỷ ”… một mảnh, một chữ đều phải đốt hết. Khắp trong nước, phàm những bia do Trung Quốc dựng từ xưa đến nay thì đều gìn giữ cẩn thận, còn các bia do An Nam dựng thì phá huỷ tất cả, một chữ chớ để còn…”. Nghĩa là tiêu diệt nền văn hoá bản địa hiện hình trên những bia ký, sách vở vốn là di sản vô giá của một dân tộc, một quốc gia. Tiêu diệt cái đó cũng chính là hủy diệt đời sống tinh thần của một dân tộc, cái làm nên sức mạnh của dân tộc đó. Quân xâm lược quyết “một chữ chớ để còn ”, cho nên nhà sử học Ngô Sĩ Liên đau xót mà viết “Lửa đốt sạch, than ôi vận nước, sách vở đi đời. Muốn tìm sự tích sau cơn khói lạnh tro tàn, thật rất khổ tâm về nỗi nét sai, chữ sót…”. Hoàng Đức Lương, văn thần triều Lê Thánh Tông, tác giả của Trích Diễm Thi tập ngậm ngùi mà rằng: “bôn ba sưu tập, hỏi han khắp nơi…những gì thu thập được cũng chỉ là một, hai trong trăm, ngàn phần…”. Thế đấy, chỉ còn được “một, hai trong trăm ngàn ” những báu vật quốc gia, những di sản vật thể và phi vật thể ấy, vì thế mà phàm là người Việt Nam còn chút lương tri, lương năng thì phải cố công chăm chút bảo vệ. Phạm vào di sản quốc gia là phạm vào trọng tội, sẽ bị hậu thế chê cười, cháu con phê phán vì đã không biết trân trọng máu xương của bao thế hệ Việt Nam đổ ra để tạo dựng và gìn giữ. Về chuyện này, lịch sử rất sòng phẳng.Thế là từ chuyện ngôi chùa làng mà bàn rộng ra những di sản, báu vật quốc gia.Mà báu vật quốc gia sát sườn với con người đang sống, đang thực hành công nghiệp hoá, đô thị hoá, hiện đại hoá là chùa làng, là đình làng những biểu tượng văn hoá gần gũi, gắn bó với người nông dân, kể cả những người thành thị là gốc gác nông dân. Nhưng thật ra, có người dân thành phố nào không có một gốc gác nông thôn? Và vì văn hoá được hình thành theo quy luật thẩm thấu, nên cho dù trải qua những tàn phá thô bạo, những thương tổn nặng nề, trong sâu thẳm tâm linh của người nông dân, những nội dung văn hoá vô hình không dễ gì mất đi được. Chúng vẫn được ủ kín trong mỗi con người, nhất là các cụ già. Và đấy là lý do giải thích sự khởi sắc của một số lễ nghi, tập tục qua các hội làng, các sinh hoạt tín ngưỡng ở làng quê. Tuy không mất đi được, song sự tổn thương thì rất khó hàn gắn. Những tổn thương đó hiện đang được trị liệu, nhưng song hành với những trị liệu đó, “văn hoá làng” đang đứng trước một thách đố còn quyết liệt hơn nhiều của làn sóng công nghiệp hoá và đô thị hoá. Liệu có thể khoanh tay ngắm nhìn sự một đi không trở lại của những hình bóng quê hương, những ngôi chùa làng, những ngôi đình làng thân thiết sâu thẳm trong tâm thức người Việt chỉ còn là những “vang bóng một thời”?Không! “Văn hóa làng” chính là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn Việt Nam, góp phần hun đúc nên bản sắc văn hoá dân tộc được vun đắp trong suốt chiều dài lịch sử mấy ngàn năm, không có cái gốc đó, không thể có bề dày văn hoá hôm nay. Đương nhiên, cũng trong văn hoá làng đã trầm tích những nét tiêu cực của con người Việt Nam nông dân, lối suy nghĩ vụn vặt, tản mạn tự trói mình trong luỹ tre làng của lối sống tự cấp tự túc không sao chuyển nổi sang kinh tế hàng hoá để phát triển bứt lên. Nhưng văn hoá làng không chỉ có thế. Cùng với những tiêu cực phải xoá bỏ, phải biết ra sức trân trọng gìn giữ và phát huy những cốt lõi tinh hoa của văn hoá làng, cái gốc của văn hoá dân tộc.Càng đi vào hiện đại, càng tiến sâu vào quá trình hội nhập quốc tế, càng phải biết gìn giữ, vun đắp cho cái gốc ấy. Đã mất gốc thì làm sao phát triển, cho dù kinh tế có tăng trưởng bao nhiêu mà văn hoá lại lai căng, mất gốc thì sự tăng trưởng đó chẳng có được bao nhiêu ý nghĩa. Đấy là chưa nói đến chuyện, vào những thập kỷ cuối thế kỷ XX bước sang thế kỷ XXI, thế giới ngày càng nhận thức rõ chính văn hoá mới là động lực và sức mạnh của phát triển. Trong quá trì̀nh toàn cầu hoá về kinh tế, mỗi quốc gia lại phải lo gìn giữ và phát triển bản sắc văn hoá của mình, đó chính là điểm tựa cho sự phát triển trong một thế giới đa cực và đa dạng. Thế nhưng, hãy nhìn vào ngôi chùa làng, ngôi đình làng, trừ một số ít được giữ gìn hoặc đang được trùng tu, còn lại thì đang tàn tạ, tiêu điều! Vì thế, nhận thức được điểm tựa của phát triển ấy, mới thấy cần phải trả lại cho chùa làng, đình làng cái chức năng văn hoá trong đời sống tinh thần của người Việt. Liệu có thể đánh thức cảm quan thẩm mỹ “Qua đình ngả nón trông đình. Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu ” và biết xao động với hình ảnh “Sư già quét lá sau chùa, Để thiêu xác lá trước giờ lên chuông” trong xã hội hiện đại? Ảo tưởng chăng? Hoài cổ ư?Có thể. Nhưng đừng quên rằng, một trong 18 bộ phim hay nhất qua mọi thời đại của điện ảnh Châu Á do CNN bình chọn năm 2008 chính là phim Bao giờ cho đến tháng mười của đạo diễn Đặng Nhật Minh, bộ phim duy nhất của điện ảnh Việt Nam được đưa vào trong danh sách bình chọn đó. Chiều sâu thẳm của bộ phim đó đề cập đến một chủ đề hiện đại trên một cái nền của cảm quan thẩm mỹ dân tộc, ở đây có thể hiểu được một cách cụ thể và đầy thuyết phục thế nào là truyền thống hoá hiện đại và hiện đại hoá truyền thống. Và cũng chính ở đây ngôn ngữ điện ảnh đã làm sống lại cái hồn dân tộc trong vở chèo Trương Viên dưới mái đình làng và sự thăng hoa của cảm xúc thẩm mỹ trong màn sương hư ảo của miếu thờ thành hoàng, ngôi chùa làng làm sống động nét tâm linh của nhân vật Duyên, một tính cách nhuần nhị và kiên cường của người phụ nữ làng quê, vượt qua những đau khổ của chiến tranh tưởng chừng không sao vượt nổi. Cái làm cho bộ phim Bao giờ cho đến tháng mười trở thành bộ phim hay nhất qua mọi thời đại của điện ảnh Châu Á phải chăng có sự góp sức đáng kể của sự thăng hoa ấy trong lý tưởng thẩm mỹ của nhà nghệ sĩ điện ảnh Đặng Nhật Minh? Quả là, trúc xinh trúc mọc đầu đình, em xinh, em đứng một mình cũng xinh.Cùng với cái đình làng, phải thấy cho ra ngôi chùa làng, những biểu tượng của văn hoá làng, cội nguồn của văn hoá dân tộc! Thấy cho ra, để như đòi hỏi của Nguyễn Văn Siêu, danh sĩ nổi tiếng cuối triều Nguyễn: “cần phải thăm dò cái gốc của nó lại phải tưới tắm cho cái ngọn của nó, mở rộng cái nguồn của nó, lại phải buông lơi cái dòng của nó ” của mạch sống dân tộc. Nói theo ngôn từ hiện đại thì đó chính là biết hiện đại hoá những tinh hoa của bản lĩnh văn hoá truyền thống, nâng chúng lên một tầm mới trong sự nghiệp phát triển và hội nhập của đất nước hôm nay. Nói chuyện ngôi chùa làng là để nói về văn hoá. Vâng, văn hoá.Chúng ta đến với thế giới bằng gì nếu không là bằng bản lĩnh của văn hoá Việt Nam?
    Tương Lai

  3. #3
    Vượt ngàn trùng sóng yenminh0210's Avatar
    Ngay tham gia
    Apr 2009
    Bài viết
    2,790

    Re: Văn hoá làng của người Việt

    Hương ước và bản sắc văn hóa làng




    Trong kho tàng văn hóa đa dạng, đặc sắc của các dân tộc Việt nam còn ẩn dấu một di sản văn hóa vô cùng quí giá, đó chính là các hương ước cổ mà nhân dân ta vẫn quen gọi nôm na là lệ làng.

    Tiếc rằng, sau cách mạng tháng Tám, cơ cấu tổ chức làng xã phong kiến cũ bị xóa bỏ, hương ước – một trong những công cụ điều khiển mối quan hệ làng xã đã không còn nữa. Song những qui ước tốt đẹp được văn bản hóa vẫn còn sống mãi với thời gian.
    Vậy Hương ước là gì?
    Các nhà nghiên cứu đã đưa rất nhiều cách lý giải khác nhau, nhưng tựu trung lại Hương ước được hiểu như sau:
    Hương ước là thuật ngữ gốc Hán, khi du nhập vào Việt Nam nó vẫn được giữ nguyên nghĩa. Hương ước là những qui ước, điều lệ của một cộng đồng chung sống trong một khu vực. Là bản pháp lý đầu tiên của các làng xã nhằm góp phần điều hòa các mối quan hệ trong xã hội cộng đồng.
    Tuy vậy Hương ước chỉ là danh từ chung để chỉ các qui ước của làng xã, thực tế Hương ước còn được gọi bằng những tên khác như : hương biên, hương khoán, hương lệ khoán ước, khoán lệ, cựu khoán tục lệ, điều ước, điều lệ.
    Ngoài những lợi ích mang tính chính trị thì những lợi ích mang tính xã hội của hương ước cũng đã được ghi nhận, đó là lợi ích về mặt giáo dục.
    Hương ước đã khẳng định vai trò của giáo dục đối với sự phát triển của xã hội :” dân làng nhà ai có con phải cho đi học, vì trong làng có nhiều người đi học thì mới có văn minh tiến hóa được. Cấm không cho con lêu lổng.”- hương ước làng Tô Xuyên.
    Không chỉ vậy, hương ước còn thể hiện giá trị nhân văn rõ nét trong việc đề cao đạo, tình thầy trò, răn học trò phải biết kính thầy, yêu thầy. Ấy là nét đẹp văn hoá truyền thống của người Việt ta.
    Trước kia, nếu trong làng có ai đó đỗ đạt cao trong các kỳ thi thì dân làng sẽ tổ chức lễ vinh qui bái tổ thật long trọng, có thể xem đó như một ngày hội lớn của cả làng.Mỗi người trong làng sẽ đóng góp cỗ mừng gồm : một con lợn, một chĩnh rượu bằng hai quan tiền sử, một mâm xôi lớn bằng một trăm thăng nếp, rồi chuẩn bị chu tất nghi trượng của đám rước như hương án, dù, cờ, lọng, chiêng, trống, gậy... và độ sáu mươi người đi theo đám rước...
    Không chỉ có thế các nho sĩ đỗ đạt còn được mừng và nhận rất nhiều những thứ tặng phẩm khác nữa, được ngồi chiếu trên ở Đình, được góp tiếng nói quyết định vào công việc của làng xã.
    Khi mất,các bậc nho sĩ ấy sẽ được xếp vào hạng Tiên hiền, được khắc tên vào văn bia, nhận ruộng tế và được dân làng tổ chức tế lễ hàng năm.
    Thời gian qua đi, sau lũy tre xanh, có biết bao nhiêu biến cố, đổi thay đã xảy ra nhưng dường như sức mạnh thời gian không thể xóa nhòa được những gì đã là bản sắc người Việt. Trước những cám dỗ của thời cuộc, có thể trong một khoảnh khắc nào đó chúng ta tưởng chừng như đã nhòa đi nhưng không: chỉ một thời gian sau những sóng gió ấy chúng ta đang dần dần khôi phục lại gần như nguyên vẹn tất cả. Có thể bây giờ khi nhắc đến hương ước đến lệ làng không còn thấy khe khắt như trước, nhưng trong lòng lại cảm thấy tự hào xiết bao về bản sắc của chính ta, cha ông ta, dân tộc ta.
    Theo PSC

  4. #4

    Re: Văn hoá làng của người Việt

    Đa số người Việt đều được sinh ra từ làng, vì thế vh làng đã trở thành một phần trong máu, tôi yêu vh làng của người Việt

  5. #5
    Dạn dày sương gió vietnamurl1's Avatar
    Ngay tham gia
    Sep 2010
    Bài viết
    458

    Re: Văn hoá làng của người Việt

    Giờ cuộc sống nhiều đổi thay, văn hóa làng cũng không hẳn là những thứ mà ta cần phải giữ. Vì trong bất kỳ văn hóa nào cũng có những hạn chế. Mình ví dụ ở làng VN thường nhà nào cũng là phát thanh viên. Chỉ 1 chuyện nhỏ cũng có thể trở thành tâm điểm của các bình luận mà đôi khi câu chuyện lại trở thành khác so với sự thật "tam sao thất bản" . Mình thích những lễ hội văn hóa của làng như vật , chọi gà , hát quan họ hay hát dân ca địa phương, đánh cờ hoặc hội thi văn hóa... rất bản sắc việt và thú vị.

  6. #6
    Vượt ngàn trùng sóng yenminh0210's Avatar
    Ngay tham gia
    Apr 2009
    Bài viết
    2,790

    Re: Văn hoá làng của người Việt



    Bình dị quán làng


    Đầu làng có mái nhà tranh

    Quanh năm bán nước chè xanh kẹo dồi
    Khách ngồi nói chuyện xa xôi
    Nghỉ chân đỡ mệt bồi hồi bước đi…

    Trong những hình ảnh mộc mạc của làng quê, ngoài đồng lúa cò bay thẳng cánh; vườn cây sai trĩu quả; đàn lợn, gà lăng xăng và nếp nhà thâm nâu ẩn dưới giàn trầu, một biểu tượng cũng làm nên nỗi nhớ, niềm thương của dân quê là cái quán làng. Không biết quán làng đã ra đời từ bao giờ, song có lẽ bắt nguồn từ việc họp chợ xa xưa ở đầu làng, bên triền đê hay một gốc cây cổ thụ. Khi chợ không còn nữa, chỉ thưa thớt vài người bán lẻ, bán buôn cách quãng, người chủ dựng lên một túp lều tránh mưa nắng đồng thời cũng cất giữ hàng hóa, hình thành cái quán.

    Quán làng thực ra là một nơi bán hàng xén, dân quê mua ở đây mọi thứ lặt vặt nếu không muốn đi chợ xa mà vẫn có nhu yếu phẩm hàng ngày. Từ ngã ba, ngã tư đầu làng đã hiện lên vài gian nhà lúp xúp. Cái nằm trên bến đò, đầu cầu; cái ở ven lộ. Quán bên sông là hình ảnh rất quen thuộc của vùng sông nước, do tập quán ăn nghỉ trên thuyền ngư dân thường dùng quán làm chốn trao đổi trên bờ. Quán làng thường bình dị, vách xây bằng đá ong, xỉ than, đất đỏ; mái lợp lá, ngói; chiều cao khiêm tốn, bề ngang nhỏ hẹp; phía trước là đường, phía sau có khoảng vườn ẩn nấp bóng tre, đa, si, muỗm, vả, nhãn, táo, mít, bưởi… Quán đơn sơ, thường chỉ đặt một chiếc sạp nhỏ bày chai lọ, ấm chén; gác đôi cọc sào treo bánh trái và kê dăm cái ghế xiêu vẹo. Cũng có quán để một ghế tràng kỷ hoặc mắc một cánh võng đu đưa cho khách nghỉ ngơi… Vốn tự cung tự cấp, nơi này thường chỉ bán của nhà làm được: Rau dưa hái tại ruộng, buồng chuối chặt sau hè. Sung mới dầm, cà đương muối. Sẵn bồ gạo, con gà, con lợn, đồ bánh nếp, bánh giò, bánh gai gói lá dong, lá chuối,…Ở làng nghề, quán bán thêm một số đặc sản như vàng hương, thuốc nam, rổ rá, cuốc thuổng, gốm sứ, vải vóc… Nhiều quán giống làng nghề, cũng tạo riêng cho mình nét đặc trưng, chỉ đến đây ta mới được thưởng thức những thứ mong ước, như quán chuyên bán bánh đúc, quán chuyên về riêu cua, rau lang chấm mắm cáy hay xôi sắn rắc muối vừng… Đa dạng là thế song cái hồn, thần chất của quán lại là ấm nước chè tươi, vối, vả, nhân trần, khổ qua… Dù ăn uống gì, sau cùng khách cũng gọi một chén nước, nhẩn nha cùng mấy thức ăn nhẹ, thơm miệng như lạc rang, kẹo vừng, bỏng gạo... Chủ quán thường là các cụ già tóc bạc, miệng bỏm bẻm nhai trầu. Cũng có khi là mấy cô gái xinh đẹp, giỏi ăn nói.Nhớ vần thơ: Quán nước đầu làng/ Bóng đa trùm mát rượi/ Bà lão bán hàng tươi cười, xởi lởi/ Mời chào đon đả người qua… Không phải tìm đâu xa, ta luôn gặp ở quán các ông lão, bà lão nhiều khi 70, 80 tuổi song vẫn minh mẫn, nhanh nhẹn.Quán của cụ thưa hàng nhưng lôi cuốn, nhất là với lũ trẻ, chúng luôn say mê quây quanh những hộp chè lam, kẹo dồi, mè xửng nấu từ bột gạo - nước gừng - mạch nha, những xâu bánh đa, bánh khảo, bánh chả buộc lạt điều lủng lẳng. Quý trẻ, cụ thường vừa bán vừa cho và còn kể cho chúng nghe những câu chuyện ngày xưa, những câu ca dao tục ngữ hò vè, những câu vọng cổ, những lời hát ru, cảnh kháng chiến, sinh hoạt nông nghiệp, lễ hội, trò chơi trong làng khiến đám trẻ mê tít. Nếu các cụ già là kho chuyện cổ tích, lễ nghi, phép tắc thì các cô gái là kho chuyện tiếu lâm nhờ nhan sắc yêu kiều lôi kéo khách hàng. Cái duyên ăn nói mặn mà khiến trai làng ngơ ngẩn, sáng ra quán, trưa vào, chiều lại ghé thăm. Với nhiều người, cái quán đầu làng đã gắn bó từ thuở thiếu thời với những buổi bà và mẹ sai đi mua củ hành, nắm tỏi, gạo muối, gia vị; ông và cha sai mua cút rượu, điếu thuốc, dao kéo… với những buổi la cà ngồi nhai viên kẹo, cái mứt…Khi biết đi chợ thành thạo cũng là lúc thường xuyên tạt ngang tạt dọc, hôm thì vào quán xì xụp bát cháo trai, cơm hến cay xè, hôm thì vào quán đánh chén bát thạch dừa mát lạnh, củ khoai sắn bắp ngô nóng rẫy. Cũng vì vậy, nhiều người xem quán là để phục vụ lứa tuổi hồn nhiên. Trên chiếc sạp phơi bày đủ thứ. Cho nhi đồng, thiếu nhi có cái kẹo lạc, kẹo bột, bỏng ngô, kem mút… Thiếu niên học sinh có bánh chuối, ô mai, chè thập cẩm…Trong quán luôn xôn xao tiếng cười nói ngây thơ. Quán làng cũng gắn với những buổi hẹn hò, yêu đương của trai gái, giờ phút chia tay bịn rịn của cha mẹ tiễn đưa con, vợ tiễn biệt chồng đi đánh giặc, tựu trường, tha hương cầu thực. Có lúc quán vắng nhưng không bao giờ hết khách. Hàng quê đơn giản thì có mấy bác nông dân chân đất, áo tơi, xe thồ tìm tới, hàng sang có khách cưỡi xe máy ghé chơi. Cũng có quán thu hút nhiều ô tô, khách quốc tế bởi mặt hàng mới lạ và chủ yếu là do bà bán hàng biết đon đả chào mời. Tính cởi mở, chân chất của người quê thể hiện ngay ở quán làng, gặp ai cũng chào, lôi kéo. Khách chỉ vào uống tạm chén nước lọc, chủ quán cũng không trách, mà mua nhiều thứ càng vui. Khách kêu gì cũng dạ, bảo bưng bê gì đều vâng. Có quán phục vụ khách đến khuya. Sớm, đón khách ăn lót dạ, trưa đợi khách uống nước nhàn và tối thì tâm sự.Xưa kia, khi chưa có điện, mỗi quán chỉ có ngọn đèn dầu leo lét đủ sáng mặt người, sẵn mảnh đóm khách châm điếu thuốc, thông ống tẩu…. Giá cả ở đây luôn rẻ hơn chỗ khác. Nhiều khi chủ quán chỉ ăn lãi một ngày dăm nghìn đồng, lại cho ghi sổ nợ nên ai cũng thích. Việc buôn bán ở quán làng trông đơn giản song khá vất vả.Ngày ngày, nhà chủ đều phải dậy sớm đun nước chuẩn bị dọn hàng. Dân quê thường ví von nghề bán quán chẳng khác chi làm con dâu trăm họ, khi đông chịu bao trách móc cay cực, khi vắng lẻ bóng buồn lòng. Ai đó bắt được những ưu tư thầm kín đã viết: Bên quán nước đầu làng/ Anh lặng nhìn nỗi nhớ đi qua/ Nghe ngọt đắng trôi trong tiềm thức/ Em vẫn thế mong manh buồn trong mắt/ Khóe môi cười nhè nhẹ dấu ưu tư...Quán làng có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống dân dã làng Việt, và đã đi vào lịch sử dân tộc trong nhiều tác phẩm văn chương, phim ảnh. Đó là quán nước của bà lão đã che chở nàng Tấm khi bị ghì ghẻ đày đọa. Là quán nước của nàng Châu Long mở ra thay chồng nuôi bạn ăn học. Là quán nước trong thời kháng chiến dân làng hoạt động bí mật, che chở cán bộ, trung chuyển thuốc men, lương thảo. Ngày xưa, chính tại những cái quán này, ngồi ngẫm nghĩ sự đời, công việc đồng áng, chuyện nhà, chuyện làng, nông dân đã sáng tác nhiều câu ca dao, tục ngữ, câu đố, chuyện cười bổ ích, đến nay họ vẫn kể nhau nghe những mẩu chuyện rút ra từ thực tiễn đúc kết thành kinh nghiệm. Đến nay, quán làng đã được dựng thành nhiều tác phẩm như truyện ngắn Bên kia sông của nhà văn Thạch Lam, kịch truyền thanh Khát Vọng sống của Đài Tiếng nói Việt Nam…Với khách độ đường, những cái quán nhỏ đóng vai trò hết sức quan trọng. Sau một chặng đường dài, nhiều người chỉ thiết tha tìm được một cái quán nghỉ chân. Buổi trưa nóng nực, ghé vào uống dăm ngụm chè, ngả lưng trên chiếc ghế dài, chiếc võng bắc qua hai gốc cây xua tan nhọc mệt. Ở vị trí đắc địa, từ hướng nào người ta cũng phải ngang qua nên ngồi ở quán có thể bao quát nhiều cảnh vật: nông dân đi cày, bừa; thợ thủ công vẽ, khảm; ngư dân chèo thuyền, bắt cá; người đi hội, kẻ gánh nước, nổi lửa … Rồi nghe được những âm thanh vẳng đưa: tiếng chó mèo, tiếng khua sóng, tiếng giặt giũ rất xa trong mưa nắng nhạt nhòa. Ngay ở quán cũng vui nhộn. Trên tán cây, chim chóc bay nhảy líu lo; dưới mặt đất gà vịt chạy líu ríu nhặt vụn bánh, hạt tấm…Mái quán lá khô rụng, mỗi khi có gió lao xao. Khách phương xa khi bước tới cổng làng đều ghé quán hỏi thăm về ngõ xóm, người thân. Cũng có khi là tìm hiểu phong tục tập quán trước khi vào làng. Vì thế, nhiều người cảm thấy về làng mà không rẽ qua quán là không được. Người ta thường hỏi nhau về nông nghiệp, giá bán các nông phẩm, mách nhỏ những mánh lới, phương thức làm ăn… Khi muốn làng trên xóm dưới biết được chuyện gì, mọi người không phao tin ở chùa, ở đình mà ở quán. Chuyện xấu tốt, buồn vui, dữ hiền, khen chê, trách móc, tin chợ búa, cưới hỏi, ma chay, tiệc tùng trong làng đều được phát ngôn từ quán. Sau buổi lao động cực nhọc, người dân kéo đến quán hát hò. Quán như một cái chợ nhỏ cho mua sắm, cũng để giải trí xả đi những âu lo.Ở đây, người ta có thể nói tục, ăn uống tự tiện không ai chú ý, nhiều khi ngủ gục không lo bị đánh thức. Những người giàu tình cảm lúc nào cũng muốn ra quán dốc bầu tâm sự, và chủ quán là người đầu tiên được họ trút bỏ nỗi niềm. Có thể nói quán là nơi giàu chuyện nhất làng, gói gọn tất cả những vui buồn của làng. Trong tiếng Việt, có nhiều cụm từ về quán, rút ra từ quán làng như “xa nhà ra ở quán” phản ánh thực tế khi đã ra khỏi nhà, lang thang ngoài đường thì nơi đầu tiên người ta nghĩ tới là tìm một chỗ trú chân. “Ăn quán” là cảnh ăn uống đạm bạc cho khỏi đói bụng chứ không được đầy đủ ấm áp như trong bữa cơm gia đình. “Chủ quán” là người bán buôn đối lập với khách hàng là người mua nói chung. “Dỡ quán” là cách ám chỉ việc làm ăn thất bát hoặc phải bỏ dở. Người dân hay dùng từ “quán xá” miêu tả cảnh hàng hóa phong phú.Cũng có các từ “quán nước-cà phê-giải khát, quán cóc” nói về những nơi buôn bán tương tự song đa phần để giải trí. Cô hàng nước là một hình tượng trong thơ văn lãng mạn, con người này không già không trẻ, không béo không gầy, có tuổi và cũng không có tuổi, thường giỏi giang, khéo yêu chiều, là người trung gian nối kết các sự kiện, mà nhiều khi là người kể chuyện. Khác với đình, chùa, chợ búa, từ “quán làng” nghe rất mỏng manh. Người ta thường gắn nó với mưa gió, bão bùng, trong một đêm trời tối lạnh lẽo, ở một địa điểm xa hoắc cùng những sự kiện bất ngờ, kiểu liêu trai chí dị.Khi ai đó nói “nghe phong phanh ở quán” là muốn ám chỉ những điều hư hư thực thực. Khi nhắc tới “quán”, cứ như có một lực hút phi thường khiến người nghe hồi hộp, chân muốn bước tới. Mặc dù nhà cửa đề huề, có điện thoại, máy tính xách tay song nhiều vùng quê, người làng vẫn thích ra quán chuyện trò. Về làng, bạn bè cũ luôn rủ nhau ra hàn huyên ở quán. Có những chuyện từ thuở nào vẫn lôi ra kể lể, rồi bò lăn mà cười. Cứ chiều, đám thanh niên lại tụ tập ở quán, bàn bạc vui vẻ… Trong khi người này nói, người khác lắng nghe rành rọt, không phải chuyện của mình cũng tham gia sôi nổi, tiếng cười tiếng nói ấm cả góc trời quê.
    Chu Mạnh Cường
    .


  7. #7
    Lần sửa cuối bởi miumiudethuong1, ngày 25-03-2013 lúc 10:27 PM.

  8. #8

    Re: Văn hoá làng của người Việt

    VH làng nguyên bản nhiều cái thâm thuý, sâu sắc lắm, tại giờ làng lai phố rồi nên mới nhiều cái dở dở ương ương, tiếc.

  9. #9
    Vượt ngàn trùng sóng yenminh0210's Avatar
    Ngay tham gia
    Apr 2009
    Bài viết
    2,790

    Re: Văn hoá làng của người Việt

    Văn hoá làng Việt và sự phát triển

    Những thành viên được phân định vai trò của mình thông qua vị trí là dân bản quán hay dân ngụ cư, gắn kết về mặt huyết tộc nhiều hay ít với các cư dân khác trong làng. Cộng đồng này có lối sống riêng và thường là đặc trưng riêng về tâm lý, đạo đức và truyền thống so với các cộng đồng khác. Không phải tự nhiên mà chúng ta có làng. Trong quá trình lịch sử dài lâu của sự tồn tại và phát triển, cùng với việc xử lý những tình huống gay go của nhu cầu chống thiên tai, địch họa mà cộng đồng làng được hình thành. Làng Việt là kết quả tiến triển tự nhiên của tổ chức công xã. Làng thường có nhiều chòm, xóm (chòm, xóm cũng là những từ thuần Việt). Nhưng cộng đồng chòm, xóm không có được những đặc trưng độc lập về văn hóa, do vậy chòm, xóm chỉ là những thành phần của cộng đồng làng.
    Trong lịch sử, làng không phải là một đơn vị hành chính. Xã, trải qua nhiều thể chế chính trị, mới là đơn vị hành chính. Xã không phải là từ thuần Việt mà là từ Hán - Việt. Xã có thể chỉ bao gồm một làng. Nhưng thường thường xã bao gồm vài ba làng. Xã không phải là cái gì đó cao hơn hoặc quyền uy hơn làng, mà là một thực thể xã hội khác, mang cấu trúc chính trị - xã hội khác với làng. Về phương diện hành chính, xã là thiết chế có tính chất pháp lý. Còn đối với người dân, người nông dân bình thường của hàng bao thế kỷ, thì người ta chỉ biết có làng. Các chỉ, dụ, luật pháp.... của triều đình; các thể chế, quy định của xã, thôn ... hết thảy đều thể hiện sức mạnh thông qua làng. Tập tục làng, truyền thống làng là chất keo đặc thù gắn kết mọi thế hệ thành viên của làng. Dù dưới triều đại nào, dù phải ứng xử với người cai trị là bản địa hay ngoại bang, thao văn minh phương Đông hay phương Tây, làng vẫn tồn tại một cách tự nhiên với sự cố kết cộng đồng đầy bản sắc của nó.

    Cái làm nên sự cố kết cộng đồng đặc thù ấy chính là văn hóa làng.
    Tính chất khoa học của khái niệm văn hóa làng thể hiện ở chổ, dù phân loại theo kiểu nào người ta cũng khó có thể đồng nhất phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tâm lý, lối sống, phương thức hoạt động và ứng xử .... của cộng đồng làng với các cộng đồng văn hóa khác, kể cả những cộng đồng đặc biệt gần gũi như xã, hoặc các cộng đồng theo đơn vị hành chính, xã hội hoặc tôn giáo. Với đơn vị là làng, văn hóa đã hiện ra như là những khuôn thước ứng xử nằm ở tầng sâu trong đời sống cộng đồng; như là hệ thống các giá trị đặc thù qui định và ngầm điều khiển các quan hệ cộng đồng; như là sự tổng hợp của những kinh nghiệm sống hình thành qua lịch sử của các cộng đồng. Mỗi con người Việt Nam, như chúng ta đều biết, nếu có được cái may mắn là sinh ra và lớn lên ở làng, thì dù đi đâu, về đâu; dù làm nghề nay hay nghề kia; dù mang quốc tịch này hay quốc tịch khác ... cũng đều khó có thể thoát ly khỏi tâm thức làng, lề thói làng, giá trị làng ...cái đã ăn sâu vào văn hóa cá nhân. "Phép vua thua lệ làng" thành ngữ này hầu như mọi người Việt Nam đều biết. Đành rằng thành ngữ này có cái dở của nó, như phản ánh sự tản mạn, cục bộ của một xã hội tiểu nông, nhưng đừng nghĩ rằng ở đây không hề có ý nghĩa tích cực nào. Thông qua thành ngữ này, văn hóa làng luôn biểu đạt cái đặc trưng riêng, cái có ý nghĩa riêng, cái mang lại sức mạnh của làng. Lịch sử cho thấy, tất cả những gì là ngoại nhập hay ngoại sinh, nếu muốn có chỗ đứng thực sự ở làng thì phải tìm cách "chung sống" với văn hóa làng. Chính từ thực tiễn lịch sử của dân tộc Việt mà chúng ta nhận ra văn hóa làng. Xác định sự tồn tại hiện thực của văn hóa làng là sự phát triển phù hợp với sự tiến triển của các ngành tri thức về văn hóa. Có lẽ chỉ khi đặt trong tươgn quan với các dạng thức văn hóa vùng và các loại văn hóa cộng đồng khác, chúng ta mới thấy rõ hơn tính đặc thù và ý nghĩa của văn hóa làng. Với cộng đồng làng, tính tự lập và tự quản thể hiện rất rõ. Mối quan hệ vừa gia trưởng vừa dân chủ (dân chủ làng xã) giữa các cá nhân thể hiện trong sự đang xen với các quan hệ huyết thống và vị trí của người bản quán và người ngụ cư. Nghĩa vụ và quyền lợi của các thành viên đối với làng cũng được căn cứ vào những quan hệ phức tạp này mà triển khai thực hiện. Về mặt kinh tế, do tính chất tự lập, tự quản mà làng là một đơn vị quản lý rất có quyền lực (đương nhiên, quyền lực này dẫu lớn cũng không vượt ra khỏi trình độ chật hẹp của một nền sản xuất khép kín và có phần tự cấp, tự túc). Trong lịch sử, làng thường có công quỹ riêng, có công điền, công thổ riêng. Và nhiều làng còn có nghề riêng gắn liền với các tổ chức phường hội, có bí mật nhà nghề truyền từ đời này đến đời khác. Mỗi làng thường có đình, miếu, có làng về sau còn có chợ. Những thiết chế nhà không đơn giản chỉ là nơi duy trì hoạt động bình thường của làng, mà còn là sự hiện diện, sự vật chất hóa đời sống tinh thần, đạo đức và tính cộng đồng ... của các thành viên trong làng. Chính ở đây các hoạt động văn hóa tinh thần của làng cũng được hình thành, nuôi dưỡng và phát triển. Theo cố học giả Trần Đình Hượn thì "Tranh làng Hồ, hát quan họ không những có gốc làng mà còn có quy mô làng ... Ngay cả văn hóa cung đình cũng chỉ là tập hợp kỹ xảo của các làng". Làng, có thể nói là cộng đồng văn hóa rất riêng, nhưng cũng rất chung trong khuôn khổ của lề thói theo phương thức sản xuất châu Aá. Cái riêng của từng làng thì thể hiện tương đối rõ ở từng tập tục riêng, lễ hội riêng, cách thức ứng xử riêng ....Nhưng từng cái riêng ấy lại đều có một "mẫu số chung" làm nên khuôn thước văn hóa làng.
    Khuôn thước văn hóa làng, dù hiện diện một cách mờ nhạt hay rõ rệt thì cũng đều là hành trang cho sự tiến bộ của con người Việt Nam hiện đại.
    GS.TS Nguyễn Duy Quý


  10. #10
    Vượt ngàn trùng sóng yenminh0210's Avatar
    Ngay tham gia
    Apr 2009
    Bài viết
    2,790

    Re: Văn hoá làng của người Việt

    Gia đình, dòng họ - Những giá trị cơ bản của văn hoá làng, xã Việt Nam
    Những mâu thuẫn, xung đột gia đình, dòng họ xảy ra ở nhiều nơi dưới sự tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường và quá trình đô thị hóa đặt ra câu hỏi: liệu gia đình, dòng họ có còn là những giá trị cơ bản trong đời sống làng, xã hay sẽ bị mai một dần, thậm chí tan rã?



    1- Quan niệm về gia đình, dòng họ
    Trong điều kiện kinh tế – xã hội hiện nay, các giá trị cơ bản của văn hóa làng, xã như gia đình, dòng họ đang giảm dần ý nghĩa đối với một bộ phận người dân. Nhiều quan niệm cho rằng, cuộc sống gia đình với sự lo toan cơm áo gạo tiền làm tiêu hao nhiều thời gian, sức lực; các chuẩn mực gia đình gò bó, cản trở tự do cá nhân, từ đó hạ thấp, thậm chí phủ định hoàn toàn vai trò của gia đình. Với dòng họ, tư tưởng “gia trưởng, ngôi thứ”, sự ganh đua, hiện tượng cục bộ, bè phái… cũng góp phần tạo ra những quan niệm tiêu cực, làm giảm bớt vai trò của dòng họ.
    Tuy nhiên, gia đình, dòng họ trong quan niệm của đa số người dân vẫn có vai trò quan trọng. Điều này thống nhất ở các nhóm đối tượng khác nhau về giới, lứa tuổi, mức sống, nghề nghiệp… Nghiên cứu tại hai địa phương Tam Sơn và Đồng Kỵ (Bắc Ninh) cho thấy, trong tổng số 420 hộ gia đình được phỏng vấn, có 97 – 99,6% khẳng định hiện nay gia đình, dòng họ vẫn rất quan trọng.
    Người dân đánh giá cao vai trò của gia đình hiện nay vì họ cho rằng, gia đình là nơi không chỉ đáp ứng nhu cầu tình cảm và tái sản sinh giống nòi mà còn là nơi tốt nhất cho việc di dưỡng tuổi già, sự phát triển của trẻ em… Trong tâm tưởng của người dân, dòng họ cũng có vai trò không kém. Gần 100% số người được hỏi cho rằng đến nay, các câu nói theo khẩu ngữ dân gian như: “một giọt máu đào hơn ao nước lã” hay “xảy cha còn chú, xảy mẹ bú dì” là “vẫn đúng”; số người phủ định chỉ có từ 0,5% đến 3,5%. Thậm chí, quan niệm của đa số người dân còn khẳng định gia đình, dòng họ hiện nay có vai trò lớn hơn trong quá khứ và ở tương lai vai trò đó vẫn sẽ vẫn tiếp tục được phát huy.
    2 – Những hành vi thực tiễn sống động
    - Gia đình
    Từ góc nhìn văn hóa, những quan niệm trên rất quý báu. Tuy nhiên, trong điều kiện gia đình và dòng họ đang chịu nhiều biến động mạnh mẽ dưới tác động của nền kinh tế thị trường và quá trình đô thị hóa, không ít băn khoăn đặt ra: liệu sự đánh giá như trên có lạc quan quá hay không? Giải đáp nỗi băn khoăn này đòi hỏi không chỉ dừng lại ở việc xem xét quan niệmmà còn phải tìm hiểu về hành vi của người dân. Nói rộng ra là phát hiện cơ sở xã hội nào đã bảo đảm cho sự đánh giá của người dân là đúng với những gì họ nghĩ.
    Nhiều công trình nghiên cứu gần đây đã chỉ ra, sau 20 năm đổi mới, gia đình ở Việt Nam đã có nhiều biến đổi. Hai địa phương Tam Sơn và Đồng Kỵ được nghiên cứu như đã nêu cũng không là ngoại lệ. Về mặt kinh tế, từ chỗ chỉ có chức năng tiêu thụ dưới thời hợp tác xã bao cấp, khi đổi mới, gia đình trở thành một đơn vị kinh tế có quyền tự chủ trong sản xuất và kinh doanh nên ngành nghề phát triển, mức sống cao hơn, điều kiện sống được cải thiện… Trong quan hệ gia đình, nếu trước đây những bất cập nổi bật là sự bất bình đẳng, sự thủ tiêu lợi ích cá nhân, cá tính, thì ngày nay – sau nhiều cuộc cải cách xã hội – quan hệ giữa vợ và chồng, bố mẹ và con cái có tính dân chủ hơn, vị thế người phụ nữ được nâng lên, quyền tự do của mỗi cá nhân được coi trọng.
    Xét theo cơ cấu, ở mỗi gia đình, số con đã giảm xuống, việc sinh con trai để “nối dõi tông đường” không còn là nguyên tắc bất di bất dịch, tỷ lệ ly hôn ở hai địa phương này cũng chỉ chiếm chưa đến 1%. Từ góc độ văn hóa tinh thần, các hình thức hưởng thụ văn hóa mới như: xem truyền hình, nghe ra-đi-ô, đọc sách báo… đã chiếm tỷ lệáp đảo. Nếp sống mới khuyến khích việc đưa các cháu nhỏ tới lớp mẫu giáo để bố mẹ, ông bà có thêm thời gian lao động, nghỉ ngơi cũng được hầu hết các nhóm xã hội ủng hộ…
    Rõ ràng, những biến đổi theo chiều hướng ngày càng no đủ, bình đẳng, dân chủ và văn minh như trên đang làm tăng thêm vai trò và củng cố vị trí vững chắc của gia đình.
    Nhưng mặt khác, bên cạnh những yếu tố động, các biến đổi trong gia đình cũng có yếu tốtĩnh ít biến đổi hơn. Lối sống gia đình ở hai địa phương được xem xét vẫn bảo lưu nhiều nét của gia đình cổ truyền. Chẳng hạn, ở Đồng Kỵ, mặc dù là nơi có mức sống rất cao với nguồn thu từ các sản phẩm đồ gỗ thủ công mỹ nghệ của nhiều hộ mỗi năm hàng trăm triệu, người dân vẫn không xa rời với truyền thống nông nghiệp. Hầu hết các gia đình vẫn giữ đất canh tác, số hộ không còn đất chỉ chiếm 5,6%. Họ vẫn tự sản xuất – kinh doanh trên phần ruộng của mình, số cho thuê, cho mượn không đáng kể. Trong sinh hoạt hằng ngày, gần 100% các gia đình ở cả hai làng đều giữ thói quen ăn chung cho tất cả mọi người trong nhà. Giữa các thế hệ luôn có mối liên hệ chặt chẽ và ấm áp. Nếp sống cổ truyền trong đó bố mẹ ở với con trai trưởng vẫn được giữ…
    Như vậy, không chỉ những yếu tố động mà cả những yếu tố tĩnh đều góp phần củng cố sự bền vững của gia đình, với tư cách là một giá trị trong hệ giá trị văn hóa làng.
    - Dòng họ
    Ở thời điểm chuyển giao giữa thời kỳ bao cấp sang giai đoạn đổi mới, với việc hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ bị giải thể, các hộ gia đình nông thôn phải tự chủ trong sản xuất kinh doanh trên phần ruộng được giao khoán lâu dài của mình. Trong điều kiện đó, để có thể tồn tại và phát triển, người nông dân đã quay trở về tìm chỗ dựa trong các mối quan hệ của họ hàng thân tộc nhằm khắc phục những khó khăn của buổi đầu tự lập như: công cụ, sức lao động, vốn liếng, kỹ thuật… Hầu hết các gia đình khi gặp khó khăn đã nhờ vả, nương tựa vào họ hàng nội ngoại, nhất là các mối quan hệ cận huyết. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, công việc kinh doanh ở các địa phương như đã nêu vẫn có sự đan xen đậm nét của các quan hệ họ hàng, làng mạc, thể hiện rõ nét nhất ở việc thuê mướn lao động ưu tiên cho những người thuộc họ tộc thân thích và người làng. Những biểu hiện trên mặc dù không phải là cách giải quyết tối ưu song nó càng khẳng định vai trò của dòng họ trong điều kiện hiện nay.
    Về mặt quản lý và quyền lực, người ta thường nói đến tệ kéo bè kéo cánh của dòng họ. Nhưng điều đó hiện nay không còn mang tính phổ biến và ảnh hưởng tiêu cực của nó không lớn. Ngay trước đây ở nông thôn, sự đan xen của nguyên lý tập hợp nhiều người khác nhau như lớp tuổi (giáp), địa vực (xóm, ngõ), sự tự nguyện (phe, phường, hội) và nhất là về kinh tế (giai cấp, tầng lớp) đã làm cho dòng họ không phải là một đơn vị thống nhất và duy nhất để có thể khuynh loát mọi điều. Ngày nay, với sự bổ sung của các nhân tố mới như chính quyền, đoàn thể, các quan hệ dòng họ càng không thể giữ vai trò quyết định trong đời sống chính trị – xã hội làng, xã. Việc “kéo bè kéo cánh” trong các dòng họ dẫn đến tình trạng mất đoàn kết xóm làng thực sự không phải trầm trọng và mang tính phổ biến như nhiều người vẫn lầm tưởng. Điều đó góp phần nâng cao nét đẹp hình ảnh dòng họ trong đời sống ở nông thôn hiện nay.
    Về mặt văn hóa tinh thần, nhờ việc tạo ra niềm cộng cảm dựa trên huyết thống, dòng họ từ xưa đến nay vẫn là một chỗ dựa vững chắc đối với mỗi cá thể trong cộng đồng. Không chỉ dừng lại ở quan niệm, việc đề cao dòng họ về phương diện văn hóa tinh thần còn được thể hiện trong các hành vi cụ thể của mỗi người, như sự tham dự của họ vào các ngày giỗ tổ, trong việc sửa sang từ đường, xây cất mồ mả tổ tiên, cưới xin, ma chay, khuyến học, khuyến tài trong dòng họ. Sự tham gia nhiệt thành và tâm huyết của người dân vào các hoạt động trên khẳng định vai trò của dòng họ vẫn còn quan trọng trong đời sống cộng đồng dân cư làng, xã.
    Vai trò của gia đình và dòng họ không chỉ được bảo lưu bền vững ở các làng, xã sống chủ yếu bằng nông nghiệp mà còn ở cả những nơi có nghề phụ phát triển, hòa nhập và chịu tác động sâu vào nền kinh tế thị trường với quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ. Đồng Kỵ là một làng sản xuất và kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ phát triển với lối sống của người dân đã có phần đô thị hóa, nhưng các giá trị cổ truyền làng, xã vẫn được gìn giữ và phát huy đậm nét. Đó là việc duy trì các bữa ăn chung hằng ngày, việc tổ chức các ngày lễ, tết trong năm, thăm nom cha mẹ, mối quan hệ chặt chẽ giữa ông bà, cha mẹ và con cái trong phạm vi gia đình, việc liên kết làm ăn kinh tế trong dòng họ, giỗ tổ họ… Đây là những nét đẹp và biểu hiện khẳng định sức sống bền vững của gia đình, dòng họ trong lối sống thôn làng của người Việt.
    Vai trò của gia đình và dòng họ với những giá trị tốt đẹp và đặc trưng trong nếp sống không những không bị mai một mà còn thích ứng, biến đổi, tạo ra các giá trị mới và có khả năng trường tồn cùng với đời sống làng, xã Việt Nam.
    Theo TCCS

+ Trả lời Chủ đề
Trang 1 của 3 1 2 3 CuốiCuối

Các Chủ đề tương tự

  1. Trả lời: 22
    Bài viết cuối: 08-06-2013, 11:22 AM
  2. Nguồn gốc tên gọi cổ của làng Việt
    Bởi yenminh0210 trong diễn đàn Làng
    Trả lời: 12
    Bài viết cuối: 01-12-2012, 10:07 AM
  3. Những ngôi làng kỳ lạ nhất Việt Nam
    Bởi yuri trong diễn đàn Làng
    Trả lời: 0
    Bài viết cuối: 09-05-2012, 06:36 PM
  4. Húng Láng - Tinh hoa riêng của người Hà Thành
    Bởi yuri trong diễn đàn Món Bắc
    Trả lời: 0
    Bài viết cuối: 02-05-2012, 06:16 PM
  5. Cổng làng - hồn Việt xưa nay vương vấn...
    Bởi yenminh0210 trong diễn đàn Làng
    Trả lời: 6
    Bài viết cuối: 30-11-2011, 11:25 AM
Quyền viết bài
  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình