+ Trả lời Chủ đề
Kết quả 1 đến 8 của 8

Chủ đề: Tìm hiểu về ca dao Việt Nam

  1. #1
    Vượt ngàn trùng sóng emcungyeukhoahoc's Avatar
    Ngay tham gia
    Dec 2008
    Bài viết
    4,915

    Tìm hiểu về ca dao Việt Nam

    Bắc


    Trung


    Nam


    Tổng quan về Ca Dao Việt Nam

    Ca dao (歌謠), theo từ nguyên, ca là bài hát có chương khúc, giai điệu; dao là bài hát ngắn, không có giai điệu, chương khúc.

    Nội dung

    Ca dao phản ánh lịch sử: Ca dao lịch sử không phản ánh hiện tượng lịch sử trong quá trình diễn biến của nó, mà chỉ nhắc đến sự kiện lịch sử để nói lên thái độ, quan điểm nhân dân.
    Phản ánh nếp sống, phong tục, tập quán truyền thống; phản ánh đời sống tình cảm nhân dân; phản ánh đời sống xã hội.
    Chứa đựng tiếng cười trào phúng.


    Phân loại

    Đồng dao

    Thơ ca dân gian truyền miệng trẻ em. Đồng dao được chia thành hai loại: loại gắn với công việc của trẻ em, loại gắn với trò chơi của trẻ em.
    Chi chi chành chành
    Cái đanh thổi lửa
    Con ngựa đứt cương
    Ba vương ngũ đế
    ...

    Ca dao lao động
    Phần lời cốt lõi của dân ca lao động. Những bài ca lao động tồn tại như là một bộ phận của quá trình lao động.

    Trời mưa trời gió đùng đùng
    Bố con ông Nùng đi gánh phân trâu
    Đem về trồng bí trồng bầu
    Trồng ngô, trồng lúa, trồng rau, trồng cà.

    Ca dao ru con
    Hát ru có từ lâu đời và rất phổ biến, lời hát ru phần nhiều là những câu ca dao có sẵn.

    Cái ngủ mày ngủ cho lâu
    Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về

    Ca dao nghi lễ, phong tục

    Trong nhiều bài ca tế thần, các yếu tố trữ tình cũng có mặt, cùng với yếu tố hiện thực, chúng biểu hiện sức mạnh của đời sống hiện thực trong các hình thức sinh hoạt tôn giáo trong nhân dân.

    Dập dìu cánh hạc chơi vơi
    Tiễn thuyền Vua Lý đang dời kinh đô
    Khi đi nhớ cậu cùng cô
    Khi về lại nhớ cá rô Tổng Trường

    Ca dao trào phúng, bông đùa

    Lỗ mũi mười tám gánh lông
    Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho
    Đêm nằm thì ngáy o o
    Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà

    Đi chợ thì hay ăn quà
    Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm
    Trên đầu những rác cùng rơm
    Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu.

    Ca dao trữ tình

    Hỡi cô tát nước bên đàng
    Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi.

    Nghệ thuật

    Ca dao sử dụng nhiều thể thơ khác nhau, thể lục bát rất phổ biến trong ca dao; thể song thất lục bát được sử dụng không nhiều; thể vãn thường gồm một câu có bốn hoặc năm chữ, rất đắc dụng trong đồng dao. Ngoài ra ca dao cũng sử dụng hợp thể là thể thơ gồm từ bốn, năm chữ thường kết hợp với lục bát biến thể.

    Cấu tứ theo lối ngẫu nhiên không có chủ đề nhất định; cấu tứ theo lối đối thoại, và cấu tứ theo lối phô diễn về thiên nhiên.
    (theo Wiki)
    Lần sửa cuối bởi emcungyeukhoahoc, ngày 21-09-2012 lúc 08:50 PM.
    I am not a scientist. I am, rather, an impresario of scientists.

  2. #2
    Vượt ngàn trùng sóng emcungyeukhoahoc's Avatar
    Ngay tham gia
    Dec 2008
    Bài viết
    4,915

    Đặc điểm thi pháp ca dao

    1) Nhân vật trữ tình

    Nhân vật trữ tình trong ca dao có một số kiểu nhất định như sau:

    - Cô gái và chàng trai trong quan hệ bè bạn, lứa đôi.

    - Người vợ, người chồng, người mẹ, người con ... trong đời sống gia đình.

    - Người con gái, con dâu, người vợ trong gia đình gia trưởng.

    - Người lính và người vợ lính trong cảnh ngộ li biệt và xa cách.

    - Người lao động nói chung (người làm ruộng, người làm thợ, người dân chài...) trong lao động, sinh hoạt và quan hệ với xóm làng, quê hương, đất nước...

    Thông qua những nhân vật trữ tình trong ca dao, xu hướng nhân dân muốn diễn tả những nét bản chất gắn với con người trong thời đại ấy. Những nét bản chất này thể hiện một cách tập trung ở cảm hứng trữ tình chủ đạo trong ca dao, dù là nam hay nữ, dù là vợ hay chồng, người làm ruộng hay người làm nghề sông nước... nhưng đều cảm nhận thân phận mình là thấy buồn, thấy khổ thì sẽ cất lên thành bài ca than thở về những khổ đau và bất hạnh của kiếp người; nêu cảm nghĩ về những người mình thương mến, những nơi thân thuộc mà thấy yêu thương thì ắt sẽ cất lên thành bài ca ân tình ân nghĩa – tình gia đình, tình bạn bè, tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương đất nước... Chính vì vậy, nói đến ca dao, dân ca người ta nhắc đến những câu hát than thân và những câu hát tình nghĩa của quần chúng nhân dân, những người lao động và bị áp bức trong xã hội cũ.

    Nhân vật trữ tình thường gắn với những đại từ nhân xưng trong ca dao như: “anh”, “em”, “qua”, “bậu”, “ta”, “chàng”, “thiếp”, “tôi”...

    Thí dụ:

    Lên non thiếp cũng lên theo,
    Tay vịn chân trèo, hái trái nuôi nhau.


    Hay:

    Bậu nói với qua bậu không hái mận bẻ đào,
    Chớ mận đâu bậu bọc, đào nào bậu cầm tay.


    Và kể cả những hình ảnh xưng hô ẩn dụ như: “mận”, “đào”, “trúc”, “mai”, “trăng”, “gió”…Tất cả không hề có dấu ấn cá nhân nên dễ dàng gợi sự đồng cảm sâu xa ở người đọc.

    Thí dụ:

    Trúc xinh trúc mọc đầu đình,
    Em xinh em đứng một mình cũng xinh.


    Hoặc:

    Vì mây cho núi nên xa,
    Mây cao mịt mù, núi nhòa xanh xanh.


    2) Thể thơ

    Các thể trong ca dao, còn được gọi là những thể thơ dân tộc, bao gồm thể thơ lục bát và lục bát biến thể, song thất lục bát và song thất lục bát biến thể, thể thơ tổng hợp (sử dụng kết hợp tất cả các thể thơ nói trên).

    Thể lục bát và lục bát biến thể

    Thể lục bát có số âm tiết ở mỗi dòng không thay đổi, vị trí gieo vần cố định: âm tiết cuối của câu sau hiệp với âm sáu của câu tám, âm tiết thứ tám của câu bát hiệp với âm tiết thứ sáu của câu lục tiếp theo. Nhịp điệu phổ biến là 2/2/2, đôi khi thay đổi thành 3/3/3 hoặc 4/4.

    Thí dụ:

    Bây giờ / mận mới / hỏi đào,
    Vườn hồng / đã có / ai vào / hay chưa?
    Mận hỏi / thì đào / xin thưa,
    Vườn hồng / có lối / nhưng chưa / ai vào.


    Nhịp điệu câu thơ lục bát uyển chuyển, linh hoạt vô cùng. Ngoài ra, với sự không gò bó, không bị hạn chế về độ dài, ngắn của tác phẩm (số lượng cặp thơ tùy thuộc vào tác giả), thể lục bát rất có sở trường trong việc diễn đạt cảm xúc vốn rất phong phú, thể hiện nội dung hết sức đa dạng của hiện thực.

    Lục bát biến thể, theo Mai Ngọc Chừ: “lục bát biến thể ở đây được quan niệm là những câu ca dao có hình thức lục bát nhưng không khít khịt “trên sáu dưới tám” mà có sự co giãn nhất định về số lượng âm tiết (tiếng)”[6,trang 224]. Lục bát biến thể có ba loại:

    Dòng lục thay đổi dòng bát giữ nguyên.

    Thí dụ:

    Tưởng giếng sâu, nối sợi dây dài,
    Hay đâu giếng cạn, tiếc hoài sợi dây.
    (7/8 tiếng)


    Dòng lục giữ nguyên, dòng bát thay đổi.

    Thí dụ:

    Lời nguyền trước cũng như sau,
    Ta không ham vui bỏ bạn, bạn chớ tham giàu bỏ ta.
    (6/12 tiếng)


    Cả hai dòng đều thay đổi.

    Thí dụ:

    Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo,
    Ngũ lục sông cũng lội, thất bát đèo cũng qua.
    (7/10 tiếng)


    Chức năng của hình thức lục bát biến thể trong việc thể hiện nội dung: chì chiết, đay nghiến, bộc lộ khó khăn và lòng quyết tâm vượt qua trở ngại, chấm biếm, trào phúng, tranh luận, đấu lí.

    Song thất lục bát và song thất lục bát biến thể

    Song thất lục bát là thể có nguồn gốc từ dân ca nhưng không phổ biến bằng thể lục bát. Thể này sau hai câu thất là hai câu lục bát (7+7+6+8 tiếng). Thể thơ này nói lên được sự đi về của cảm xúc như những đợt sóng lên cao xuống thấp rồi lại dàn ra đón lấy một đợt sóng khác.

    Thí dụ:

    Mây trên trời bủa giăng tứ phía,
    Nước ngoài biển sóng dợn tứ bề.
    Làm sao hiệp nghĩa phu thê,
    Đó chồng, đây vợ ra về có đôi.


    Song thất lục bát biến thể là thể thơ mà số lượng tiếng trong câu tăng lên.

    Thí dụ:

    Ai trắng như bông lòng tôi không chuộng,
    Ai đó đen giòn, làm ruộng tôi thương,
    Biết rằng dạ có vấn vương,
    Để tôi cậy mối tìm đường sang chơi.

    Thể hỗn hợp hay còn gọi là thể thơ tự do

    Đường không đi sao biết,
    Chuông không đánh sao kêu,
    Nghe lời anh nói bao nhiêu,
    Khiến lòng thắc thẻo chín chiều xót đau
    .

    Hai câu năm tiếng và một cặp lục bát.

    Chiều chiều trước bến Văn Lâu
    Ai ngồi ai câu
    Ai sầu ai thảm
    Ai nhớ ai trông
    Thuyền ai thấp thoáng bên sông
    Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non.


    Lời ca dao trên gồm một câu sáu, bốn câu bốn tiếng, và một cặp lục bát.

    Trong tất cả các thể thơ thì thể thơ lục bát chiếm một số lượng rất lớn và trở thành một thể thơ tiêu biểu nhất của ca dao.

    3) Thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật

    Thời gian nghệ thuật trong ca dao, dân ca trữ tình là thời gian hiện tại, thời gian diễn xướng.
    Thời gian hiện tại của ca dao bộc lộ qua những từ như: hôm nay, hôm qua.

    Thí dụ:

    Bây giờ em mới hỏi anh,
    Trầu vàng nhá với cau xanh thế nào?
    Cau xanh nhá với trầu vàng,
    Tình anh sánh với duyên nàng đẹp đôi.


    Hay:

    Hôm nay sum họp trúc mai,
    Tình chung một khắc, nghĩa dài trăm năm.


    Trong ca dao còn có những cụm từ chỉ thời gian như: ngày đi, ngày về, hôm qua, đêm qua thì cũng từ thời hiện tại mà nói. Likhatrốp gọi là thời gian diễn xướng. Ngoài ra thời gian trong ca dao còn là thời gian tâm lý. Đã là thời gian tâm lý thì nó có muôn vàn cách biểu hiện phụ thuộc vào những cảm nghĩ, tâm tư, cảm xúc...của nhân vật trữ tình.

    Thí dụ:

    Ngày đi em chửa có chồng,
    Ngày về em đã con bế, con bồng, con mang.


    “Ngày đi” không còn là thời gian vật lí mà thời gian đang diễn ra trong tâm trạng nhân vật, hoàn cảnh chủ quan. Đó là tâm trạng của nhân vật trữ tình trước sự thay đổi của hoàn cảnh.

    Thí dụ:

    Tôi xa mình ông trời nắng tôi nói mưa,
    Canh ba tôi nói sáng, ông trời mưa tôi nói chiều.


    Không gian nghệ thuật: dòng sông, con thuyền, cái cầu, bờ ao, cây đa, mái đình...là những không gian vật lí thường gặp trong ca dao.

    Thí dụ:

    Cô kia cắt cỏ bên sông,
    Có muốn ăn nhãn thì lồng sang đây.
    Sang đây anh nắm cổ tay,
    Anh hỏi câu này có lấy anh không.

    Nhìn chung, trong kho tàng văn học dân gian của người Việt, không gian vật lí là những không gian bình dị của làng quê, có quy mô vừa phải. Bên cạnh không gian vật lí, trong ca dao còn xuất hiện không gian xã hội. Ở đây có những mối quan hệ xã hội hết sức đa dạng giữa con người với con người.

    Thí dụ:

    Gặp nhau giữa chuyến đò đầy,
    Một lòng đã hẹn, cầm tay mặn mà.


    Cũng giống như thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật trong ca dao, dân ca trữ tình cũng là thời gian tâm lí. Nếu xác định được nhân vật trữ tình đang hát ở nơi nào, địa điểm nào thì ta đoán biết được tâm trạng của nhân vật đang diễn ra như thế nào. Chẳng hạn, “ngõ sau” là nỗi buồn, nỗi nhớ; “bến sông” là nơi ngóng trông chờ đợi, “giữa đường” là nơi gặp gỡ, làm quen. Bên cạnh những không gian vật lí, không gian xã hội có tên gọi, không gian trong ca dao còn là không gian phiếm chỉ. Tính phiếm chỉ tạo nên sự đồng cảm của những con người mang tâm trạng chung. Đó có thể là tâm trạng của một cô gái đang yêu, một chàng trai thất tình, một người con xa quê…tính chất này làm cho người đọc đồng cảm, có chung tâm trạng khi đọc những câu ca dao ấy lên đều thấy mình trong đó.

    4) Ngôn ngữ

    Ngôn ngữ ca dao mang đậm tính chất ngôn ngữ dân tộc. Nhờ biết dựa vào ngôn ngữ dân tộc, khai thác sử dụng ngôn ngữ dân tộc mà ca dao dân gian Việt Nam rất giàu bản sắc không những thế mà ca dao còn tác động ngược trở lại ngôn ngữ dân tộc để củng cố và phát triển ngôn ngữ dân tộc. Văn học dân gian vốn có tính dân tộc, tính tập thể, và tính truyền miệng nên vừa thống nhất, vừa đa dạng. Vì vậy mà hai khuynh hướng dân tộc hóa và địa phương hóa luôn diễn ra song song và tác động lẫn nhau. Ngôn ngữ ca dao cũng vậy, vừa đậm đà bản sắc dân tộc vừa mang sắc thái địa phương. Chúng ta nhận thấy dấu ấn văn hóa vùng miền nhờ vào ngôn ngữ địa phương. Ca dao Bắc Bộ thì nhẹ nhàng tình tứ.

    Thí dụ:

    Người về em chẳng cho về,
    Em nâng vạt áo, em đề câu thơ.


    Ca dao Nam Bộ thì bộc lộ một cách rõ ràng, bộc trực, dứt khoát.

    Thí dụ:

    Anh về em nắm vạt áo em la làng,
    Anh bỏ chữ thương chữ nhớ giữa đàng cho em…


    Khi sáng tác ca dao, nhân dân lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ theo yêu cầu của nghệ thuật thơ ca để bộc lộ tâm tình và những cảm xúc thẩm mĩ mà ngôn ngữ giao tiếp thông thường không thể nào diễn đạt được. Ngôn ngữ ca dao là một thứ ngôn ngữ giàu sắc thái biểu cảm, tính chất biểu tượng, ước lệ, tượng trưng, ẩn dụ… rất đậm nét.

    5) Kết cấu

    Kết cấu một vế đơn giản

    Là dạng kết cấu nội dung của lời là một ý lớn do các phán đoán tạo thành.

    Thí dụ:

    Dốc bồ thương kẻ ăn đong,
    Vắng chồng thương kẻ nằm không một mình.

    A: Dốc bồ thương kẻ ăn đong.
    B: Vắng chồng thương kẻ nằm không một mình.


    Cả hai phán đoán A, B đều nhằm diễn đạt cái ý đồng cảm với những người cùng cảnh ngộ với mình.
    Kết cấu một vế có phần vần

    Phần đầu tác giả dân gian miêu tả ngoại cảnh (cỏ, cây, sông, núi, đất, trời…). Các nhà nghiên cứu thường gọi phần này là phần gợi hứng. Sau phần này là phần chính của lời có trường hợp giữa hai phần có mối quan hệ liên tưởng.

    Thí dụ:

    Quả cau nho nhỏ
    Cái vỏ vân vân
    Nay anh học gần
    Mai anh học xa
    Lấy anh từ thuở mười ba
    Đến năm mười tám thiếp đà năm con
    Ra đường người nghĩ còn son
    Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng.


    Quả cau là hình tượng gợi hứng, người phụ nữ năm con là hình ảnh chính. Giữa hai phần lời ca dao có mối quan hệ hồi tưởng quả cau→ngày cưới→cuộc sống vợ hiện tại.

    Kết cấu hai vế tương hợp

    Dạng này thường xuất hiện trong hát đối đáp. Nội dung gồm hai ý lớn có thể tương hợp.

    Thí dụ:

    Bây giờ mận mới hỏi đào,
    Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
    Mận hỏi thì đào xin thưa,
    Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.


    Người con trai ướm hỏi cô gái và cô gái trả lời. Dạng kết cấu này chiếm hầu hết trong kho tàng ca dao, dân ca là mảng đề tài về tình yêu đôi lứa và tình cảm gia đình.

    Kết cấu nhiều vế nối tiếp

    Kết cấu nhiều vế nối tiếp nhau là nội dung của lời gồm nhiều ý nối tiếp nhau. Thuộc dạng này có hai loại. Một loại thì giữa các ý không có mối liên hệ mạch lạc. Một loại giữa các vế không chỉ gắn bó về vần mà còn được liên hệ chặt chẽ về nội dung.

    6) Một số biểu tượng, hình ảnh trong ca dao

    Thế giới biểu tượng trong ca dao khá phong phú và đa dạng, “Biểu tượng trong ca dao là một loại biểu tượng nghệ thuật, xây dựng bằng ngôn từ với những quy ước của cộng đồng” [1, trang 106].Có thể phân loại các biểu tượng hết sức phong phú đa dạng của hiện thực ấy như sau:

    Thế giới các hiện tượng tự nhiên, thiên nhiên

    - Các hiện tượng tự nhiên: trăng, sao, mây, gió…
    - Thế giới thực vật: cỏ, cây, hoa, lá…
    - Thế giới động vật: rồng, phượng, chim, muông…

    Thế giới các vật thể nhân tạo bao gồm:

    - Các đồ dùng cá nhân: áo, khăn, gương lược…
    - Các dụng cụ sinh hoạt gia đình: chăn, chiếu, giường…
    - Các công cụ sản xuất: thuyền, lưới, đò…
    - Các cộng cụ kiến trúc: đình, nhà, cầu…

    Tóm lại, khi nói đến thi pháp chúng ta thường đề cập đến các vấn đề thuộc về kĩ thuật, kĩ xảo, thao tác và tài năng sáng tạo nghệ thuật. Song để xác định một tác phẩm nghệ thuật đích thực, những lời ca dao đặc sắc, nếu chỉ có kĩ thuật, tay nghề không chưa đủ mà điều kiện trước hết vẫn là sự chân thực của cảm xúc, là sự rung động sâu sắc, tha thiết của trái tim nguời nghệ sĩ.

    (Sưu tầm)
    I am not a scientist. I am, rather, an impresario of scientists.

  3. #3
    Bay cao typn's Avatar
    Ngay tham gia
    Mar 2009
    Bài viết
    358

    Tỏ tình ... kiểu Việt Nam

    Tình yêu là đề tài bất tận của thơ ca, với một dân tộc có ngôn ngữ vần điệu, nhịp nhàng như tiếng Việt thì tình yêu càng dễ dàng nên thơ, thành nhạc. Trong tình yêu, giai đoạn tỏ tình được xem là giai đoạn cam go nhất. Trai gái, như các cụ nói, đến tuổi cập kê thì tìm đến nhau, nhưng khổ nỗi khi đã “phải lòng” nhau rồi mà vẫn chưa tìm được cách nói sao cho đằng kia họ hiểu, và bài toán nan giải này được “các anh” “các chị” ngày trước giải một cách “ngon lành”. Chẳng hạn:

    Bây giờ mận mới hỏi đào
    Vườn hồng có lối ai vào hay chưa?
    Mận hỏi thì đào xin thưa:
    Vuờn hồng có lối nhưng chưa ai vào.

    Hẳn anh chàng vai “mận” nào đó kia sẽ mừng hơn bắt được vàng khi nàng “đào” mà anh để ý bấy lâu nay đã bất đèn “xanh” báo cho anh biết cô ấy cũng “ưng” mình, còn chần chờ gì mà không ... tiến lên! Người xưa thông minh, khéo léo, tế nhị làm vậy:

    Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng
    Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?
    Đan sàng thiếp cũng xin vâng
    Tre vừa đủ lá, non chăng hỡi chàng?

    Đặc biệt hơn, có anh còn “ sáng tạo” ra một câu chuyện mà vòng vo, mà dông dài để cuối cùng là vào “vấn đề” cốt yếu: “Lấy anh nhé !”. Câu chuyện bỏ quên chiếc áo độc đáo:

    Tối qua tát nước đầu đình
    Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen.
    Có được thì cho anh xin,
    Hay là em để làm tin trong nhà ?
    Áo anh sứt chỉ đường tà,
    Vợ con chưa có, mẹ già chưa khâu,
    Áo anh sứt chỉ đã lâu.
    Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng .
    Khâu rồi anh sẽ trả công
    Đến lúc lấy chồng, anh sẽ giúp cho,
    Giúp cho một thúng xôi vò
    Một con lợn béo, một vò rượu tăm,
    Giúp cho đôi chiếu em nằm,
    Đôi chăn em đắp, đôi chằm em đeo,
    Giúp cho quan tám tiền treo,
    Quan năm tiền cưới, lại đèo buồng cau...

    Trên đây là cách ăn nói của những người nông dân người miền Bắc ngày xưa.
    Còn người miền Nam thì “bộc trực” hơn:

    Nếu mà không lấy đặng em
    Anh về đóng cửa cài rèm đi tu

    Anh chàng này không cần bóng gió xa xôi, anh nói thẳng với “một phong cách có vẻ rất thế kỷ 21”- gần gũi với giới trẻ chúng ta ngày nay, yêu thì nói yêu, không vòng vo (?!) Cũng may cho anh là gặp được người thương mình:

    Tu đâu cho em tu cùng
    May ra thành Phật thờ chung một chùa

    Bên dưới có sông, bên trên có chợ
    Hai đứa mình kết vợ chồng nghen.

    Trời mưa cóc nhái chết sầu
    Ễnh ương đi cưới nhái bầu không ưng
    Chàng hiu đứng dựa sau lưng
    Khều khều móc móc cứ ưng cho rồi.

    "Con ếch ngồi dựa gốc bưng
    Nó kêu cái "quệt", biểu ưng cho rồi"

    "Thương em nên mới đi đêm

    Té xuống bờ ruộng đất mềm hổng đau

    May đất mềm nên mới hổng đau

    Phải mà đất cứng ắt xa nhau phen này"

    "Vắng cơm ba bữa còn no
    Vắng em một bữa dở giò không lên"

    "Phòng loan trải chiếu rộng thình
    Anh lăn qua đụng cái gối, tưởng bạn mình, em ơi!"

    Anh thương em,
    Thương lún, thương lụn,
    Thương lột da óc,
    Thương tróc da đầu,
    Ngủ quên thì nhớ,
    Thức dậy thì thương

    "Thác ba năm thịt đã thành bùn
    Đầu thai con chim nhạn đậu nhánh tùng chờ em"

    "Phải chi cắt ruột đừng đau
    Để em cắt ruột em trao anh mang về"

    Anh về em nắm vạt áo em la làng
    Phải bỏ chữ thương chữ nhớ giữa đàng cho em.

    Dao phay kề cổ, máu đổ không màng
    Chết thì chịu chết, buông nàng anh không buông

    "Tôi xa mình ông trời nắng tôi nói mưa
    Canh ba tôi nói sáng, giữa trưa tôi nói chiều"

    "Chẳng thà lăn xuống giếng cái "chũm"
    Chết ngủm rồi đời
    Sống chi đây chịu chữ mồ côi
    Loan xa phượng cách biết đứng ngồi với ai?"

    "Tôi xa mình hổng chết cũng đau
    Thuốc bạc trăm không mạnh, mặt nhìn nhau mạnh liền"

    "Trời xanh bông trắng nhụy huỳnh
    Đội ơn bà ngoại đẻ má, má đẻ mình dễ thương".

    Chồng chèo thì vợ cũng chèo
    Hai đứa cùng nghèo lại đụng với nhau.

    Thân em như cá trong lờ
    Hết phương vùng vẫy không biết nhờ nơi đâu.

    "Gá duyên chẳng đặng hội này
    Tôi chèo ghe ra sông cái, nước lớn đầy... tôi chèo vô"

    "Quất ông tơ cái trót
    Ổng nhảy tót lên ngọn cây bần
    Biểu ông xe mối chỉ năm bảy lần, ổng không xe"


    Anh tưởng giếng sâu anh nối sợi dây cụt
    Ai dè giếng cạn nó hụt sợi dây
    Qua tới đây không cưới được cô hai mày
    Qua chèo ghe ra biển đợi nước đầy qua chèo trở vô.

    "May không chút nữa em lầm
    Khoai lang khô xắt lát em tưởng cao ly sâm bên Tàu"


    Người miền Trung do đặc trưng của dải đất bão gió, cằn cỗi, nên lối ăn nói của họ cũng khác, không bay bổng mơ mộng nhiều mà rất thực tế, thậm chí là khắt khe, khó tính.

    Trong khi chàng trai lãng mạn một chút:

    Chiều chiều mây phủ về kinh
    Ếch kêu giếng lạn cảm tình đôi ta
    Ðôi ta như lửa mới nhen
    Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu

    Thì cô gái:

    Anh về tìm vảy cá trê
    Tìm gan tôm sú, tìm mề con lươn
    Bao giờ sứa nọ có xương
    Dây tơ hồng có rễ thiếp thương với chàng
    Bao giờ đậu phụng bò giàn
    Bí đao bò đất thiếp với chàng gày duyên

    Tuy nhiên, họ cũng rất khéo léo và không kém phần tế nhị trong việc từ chối tình cảm của người mà mình không “cảm”:

    Ðèn hết dầu đèn tắt
    Nhang hết vị hết thơm
    Anh đừng lên xuống đêm hôm
    Thế gian đàm tiếu nam nồm khổ em!

    “Nam nồm” gió nam gió nồm thổi lộn nhau vào mùa tháng hai tháng ba, rất khắc nghiệt. Người con gái so sánh miệng lưỡi thế gian còn khắc nghiệt hơn thứ gió chết người kia. Quả là ... cao tay !


    (vntruongson)
    Lần sửa cuối bởi vntruongson, ngày 27-11-2012 lúc 08:32 AM.
    Women are always beautiful.

  4. #4
    Vượt ngàn trùng sóng emcungyeukhoahoc's Avatar
    Ngay tham gia
    Dec 2008
    Bài viết
    4,915

    Thân em như ...



    Có biết bao bài ca dao nói về "thân em", nói về thân phận cuộc đời của cô gái nơi thôn xóm đồng quê, sau bờ dâu ruộng lúa:
    "Thân em như tấm lụa đào,
    Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai".

    Lụa đào là lụa hồng, rất đẹp rất quý. So sánh "Thân em như tấm lụa đào", o thôn nữ tự hào về nhan sắc xinh đẹp của mình, một vẻ đẹp mơn mởn đào tơ. Câu thứ hai biểu lộ nỗi niềm băn khoăn, bâng khuâng của thiếu nữ về chuyện tình duyên, chuyện gia thất tương lai: "Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai". "Ai" là đại từ nhân xưng phiếm chỉ, là anh trai cày xóm dưới làng trên. Câu hỏi thể hiện ít nhiều băn khoăn. Ngày xưa, cha mẹ "đặt đâu con ngồi đó", không có chuyện tự do yêu đương, nên cô gái đến tuổi "cập kê" mới có nỗi niềm ấy.

    Bài ca dao thứ hai, cô gái làng quê chân lấm tay bùn, mộc mạc chất phác lại có cách ví von khác:

    "Thân em như củ ấu gai,
    Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen".
    Củ ấu gai thường có hai, ba sừng, có nhiều ở đồng sâu, đồng trũng, ao dưới đìa trên. Vỏ ấu thì đen, cơm ấu, ruột ấu thì trắng.

    Hai tính từ "trắng" "đen" tương phản. Qua đó, o thôn nữ tự hào nói về mình: em đen là đen giòn, vì siêng năng hay lam hay làm, dầm mưa dãi nắng nên nước da em "đen"; đen mà khoẻ mạnh đảm đang, đen mà trinh trắng tâm hồn.

    Con gái ở đâu, thời nào cũng vậy, có cô "mỏng mày hay hạt", "cổ kiêu ba ngấn", "má phấn môi son", "tóc liễu mày ngài",... Có cô lại nước da bánh mật, đen giòn,... Qua cách so sánh, cô gái tự hào về cái "duyên thầm" của mình, về tâm hồn của mình. Không hề có chuyện "than thân"!
    Hai câu tiếp theo là tiếng hát, là lời chào mời, vẫy gọi. Rất chất phác, thật thà, có sao nói vậy:
    "Ai ơi nếm thử mà xem,
    Nếm ra, mới biết rằng em ngọt bùi".
    "Ai" là đại từ nhân xưng phiếm chỉ, là anh xã chú nhiêu, là anh tát nước "bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen", là anh thợ mộc Thanh Hoa đa tài đa tình chạm dê, chạm rồng, chạm gà, chạm đèn... để nàng dệt vải quay tơ... Cũng có thể là chàng trai vài năm sau sẽ "trèo lên cây bưởi hái hoa...". Chữ "nếm thử", "nếm ra" dùng rất hay, rất mộc mạc chân tình: anh hãy xin mẹ cha "đem trầu bỏ ngõ", chuẩn bị "đôi chiếu, đôi chăn, đôi trằm, quan tám tiền cheo, quan năm tiền cưới, lại đèo thêm buồng cau...", thì lúc đó "mới biết rằng em ngọt bùi". Cũng nói về chuyện kết tóc xe tơ, không hoa mĩ, hoa hoè hoa sói mà mộc mạc, chân thành. Thiếu nữ được nói đến trong bài ca dao rất đáng yêu quý, có bao nhiêu phẩm chất tốt đẹp: khoẻ mạnh, chất phác, hồn hậu, trong trắng. Các tính từ: "trắng, ngọt bùi" đã nêu bật cái "duyên thầm" thôn nữ. Mần chi có sự "than thân". Chúng ta hãy đọc lại và suy ngẫm về cách nói và điệu tâm tình của cô gái làng quê ngày xưa.

    (
    Nguồn: Nhiều tác giả, 108 bài văn 10 chọn lọc, Nxb Tổng hợp TP. HCM)
    (ảnh: sưu tầm)
    I am not a scientist. I am, rather, an impresario of scientists.

  5. #5
    Vượt ngàn trùng sóng emcungyeukhoahoc's Avatar
    Ngay tham gia
    Dec 2008
    Bài viết
    4,915

    Khăn thương nhớ ai

    Một chữ "thương", một chữ "nhớ" trong ca dao dân ca Việt Nam từng làm xao xuyến lòng ta, lòng người đã bao lâu nay.




    "Khăn thương nhớ ai,
    Khăn rơi xuống đất.
    Khăn thương nhớ ai,

    Khăn vắt trên vai.
    Khăn thương nhớ ai,
    Khăn chùi nước mắt.
    Đèn thương nhớ ai,
    Mà đèn không tắt.
    Mắt thương nhớ ai,

    Mắt ngủ không yên.
    Đêm qua em những lo phiền,
    Lo vì một nỗi không yên một bề".

    Bài ca dao "khăn thương nhớ ai" gồm có 12 câu: 10 câu thơ bốn chữ và 2 câu thơ lục bát nói về tâm trạng của "em", của o thôn nữ ngày xưa. "Khăn, đèn, mắt" là ba hình ảnh hoán dụ - ẩn dụ, lấy vật thể để tả nội tâm. Nội tâm đó là: "thương nhớ", là "không yên", "những lo phiền", là "không yên một bề". Nghệ thuật sử dụng điệp ngữ rất đặc sắc, đã làm nổi bật tình thương nhớ, nỗi lo phiền lớp lớp dâng lên trong lòng thiếu nữ, có lúc thao thức thâu canh. Sáu chữ "khăn", hai chữ "đèn", hai chữ "mắt"; chữ "thương", chữ "nhớ" đều được láy lại năm lần; các chữ "lo", "không yên", "lo phiền" xoắn lại như cuộn tơ vò. Hai câu lục bát cuối bài ca dao vừa làm cho nhịp thơ giãn ra, vừa diễn tả tiếng thở dài khẽ cất lên trong tâm hồn "em":

    "Đêm qua em những lo phiền,


    Lo vì một nỗi không yên một bề".


    "Một bề" ở đây là chuyện tình duyên, chuyện chồng con sắp tới. Thương, nhớ, lo, phiền là tâm trạng của "em". Có yêu nhiều, có tự ý thức về thân phận mình, tình duyên mình mới có tâm trạng ấy. "Khăn thương nhớ ai" là một viên ngọc đẹp trong ca dao Việt Nam.


    "một trong những câu ca dao hay nhất của Việt Nam" (Hoài Thanh)

    Ca dao nói về tình yêu trai gái có muôn hình nghìn vẻ. Có tiếng hát tự tình giao duyên. Có lời giã bạn muôn vàn thiết tha lưu luyến. Có tương tư thương nhớ chờ mong. Bài ca dao "Khăn thương nhớ ai" là một khúc tương tư của thiếu nữ, mà "sầu đong càng lắc càng đầy", càng thương càng nhớ, càng nhớ thương càng lo phiền thao thức.



    Bài ca dao gồm có 12 câu. Mười câu đầu viết theo thể nói lối, mỗi câu có 4 chữ. Khăn, đèn, mắt là 3 hình ảnh ẩn dụ - hoán dụ - nhân hoá thể hiện tình thương nhớ người yêu của cô gái đa tình. Hai câu cuối viết theo thể lục bát nói lên nỗi lo phiền của thiếu nữ tương tư.


    a. Sáu câu đầu nói về "khăn", lấy khăn để giãi bày tâm sự thầm kín. Ba câu hỏi tu từ liên tiếp xuất hiện: "Khăn thương nhớ ai... Khăn thương nhớ ai... Khăn thương nhớ ai...". Mỗi lần lại có một cách thổ lộ khác, tất cả đều biểu lộ một nét tâm trạng "thương nhớ" day dứt khôn nguôi rất điển hình.
    "Thương nhớ" bổi hổi bồi hồi, chân tay uể oải, buồn quá không muốn cử động khác nào "khăn rơi xuống đất". Có lúc nỗi "thương nhớ" cồn cào ruột gan, đứng ngồi không yên tựa như "khăn vắt lên vai". Lại có khi "thương nhớ" lớp lớp sóng dồi, càng nhớ thương càng buồn tủi, cô đơn. Bao nhiêu lệ đã tuôn rơi và chỉ biết "khăn chùi nước mắt". Có yêu lắm mới nhớ nhiều. Càng thương nhớ càng buồn cô đơn, và chỉ biết khóc thầm như ai đó:
    "Nhớ ai, em những khóc thầm,
    Hai hàng nước mắt đầm đầm như mưa".
    ở đây, "khăn" là khách thể trữ tình, là đối tượng để cô gái đa tình, si tình cùng tâm sự, cùng giãi bày, cùng thổ lộ, để san sẻ nỗi thương nhớ đầy vơi trong lòng. "Khăn" đồng thời là ẩn dụ; lòng em như khăn đó. Nghệ thuật sử dụng điệp cú liên hoàn (3 lần) "khăn thương nhớ ai" và nhân hoá: "khăn rơi xuống đất", "khăn vắt lên vai", "khăn chùi nước mắt" đã cực tả bao nỗi thương nhớ day dứt, triền miên, bồi hồi dâng lên trong lòng em.
    b. "Đèn" là ẩn dụ nhân hoá thứ hai thể hiện tình tương tư. Thâu canh cô gái thao thức một đèn một bóng. Chỉ có đèn, may ra mới thấu hiểu. Lòng em cũng chính là "đèn" giữa đêm khuya:
    "Đèn thương nhớ ai,
    Mà đèn không tắt".
    Đèn cũng như trăng luôn luôn hiện diện cùng các cô gái, chàng trai đa tình đang thao thức cô đơn, đang tương tư thương nhớ người tình xa cách:
    "Đèn tà thấp thoáng bóng trăng,
    Ai đem người ngọc thung thăng chốn này ?"
    Ca dao
    "Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao,
    Mặt tơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng".
    Truyện Kiều
    c. Sau hai ẩn dụ "khăn" và "đèn", "mắt" là một hoán dụ nghệ thuật được nói đến:

    "Măt thương nhớ ai,
    Mắt ngủ không yên".
    "Khăn" và "đèn" còn là vật thể, khách thể. "Mắt" mới chính là lòng em, hồn em, tình em. Vì quá thương nhớ người yêu mà em thao thức suốt những đêm dài, càng thương nhớ càng nóng ruột, "mắt ngủ không yên" càng bồn chồn thương nhớ.
    Cũng là thương nhớ, buồn tương tư, nhưng mỗi chàng trai, cô gái đa tình, si tình lại có những nét tâm trạng riêng. Và mỗi nhà thơ lại có một cách nói riêng, cách diễn tả riêng.
    Nguyễn Công Trứ (1778 - 1858) một nhà nho tài tử:
    "... Trăng soi trước mặt ngờ chân bước,
    Gió thổi bên tai ngỡ miệng chào.
    Một nước một non, người một ngả,
    Tương tư không biết cái làm sao !"
    ("Tương tư")
    Tản Đà, một thi sĩ phong tình:
    "... Nghìn dặm dám quên tình lúc ấy,
    Trăm năm còn nhớ chuyện ngày xưa.
    Tương tư một mối hai người biết,
    Ai đọc thơ này đã biết chưa ?"
    ("Ngày xuân tương tư")
    Xuân Diệu đa tình, đắm đuối:
    "Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh
    Anh nhớ em, anh nhớ lắm ! Em ơi !".
    ("Tương tư chiều")
    Và Nguyễn Bính mộng mơ:
    "Tương tư thức mấy đêm rồi,
    Biết cho ai hỏi ai người biết cho..."
    ("Tương tư")
    Đọc lại một đôi vần thơ viết về tương tư, ta càng cảm thấy cái ý vị thương nhớ lo phiền của thiếu nữ được thể hiện trong bài ca dao "Khăn thương nhớ ai", một bài ca dao rất độc đáo, lúc nào đọc cũng cảm thấy rất hay và mới mẻ. Phải chăng vì thế mà nhà văn Hoài Thanh đã ca ngợi "là một trong những câu ca dao hay nhất của Việt Nam".

    Sau khi mượn "khăn", "đèn", "mắt" để giãi bày, thổ lộ tình "thương nhớ", nỗi buồn tương tư, cô gái nói lên nỗi "lo phiền" của mình:


    "Đêm qua em những lo phiền,
    Lo vì một nỗi không yên một bề".
    "Lo phiền" là tâm trạng, nghĩa là vừa lo vừa buồn héo hon cả ruột gan. Chữ "những" (những lo phiền) kết hợp với điệp từ "lo" đã diễn tả nỗi "lo phiền" chồng chất, không thể nào kể xiết. "Một nỗi không yên một bề" là nguyên nhân của "những lo phiền" đang chứa chất trong lòng "em". Đó là chuyện tình duyên, chuyện hạnh phúc mai sau, là nỗi thương nhớ, nỗi buồn tương tư của "em", không biết người yêu trong xa cách có thấu tình cho chăng ?
    "Lo phiền" là tâm trạng "đêm qua", còn đêm nay là "thương nhớ" bồn chồn, là thao thức, cô đơn, buồn tủi khóc thầm, đứng ngồi không yên. Và "em" chỉ còn biết than thầm, chỉ còn biết thổ lộ với "khăn", với "đèn", với "mắt". Qua đó, ta thấy nỗi "lo phiền" tương tư của cô gái đa tình là triền miên, dằng dặc, khôn nguôi. Hai câu lục bát như mở rộng tâm trạng nghệ thuật, không gian nghệ thuật, là bao la, thời gian nghệ thuật, là vô tận, đó là tương tư.
    Cái hay của bài ca dao "Khăn thương nhớ ai" là ở sự biến hoá. Biến hoá về thể thơ: thơ nói lối 4 chữ chuyển thành thơ lục bát. Biến hoá về cách biểu lộ tâm trạng: tự hỏi và tự trả lời, tự giãi bày và bộc lộ. Biến hoá về tình tương tư: thương nhớ và lo phiền "không yên một bề". Biến hoá về các biện pháp tu từ: ẩn dụ, hoán dụ, nhân hoá, điệp ngữ, câu hỏi tu từ, và cảm xúc thiết tha, bồi hồi. Năm lần chữ "ai" xuất hiện đã làm cho tình thương nhớ tương tư thêm day dứt, mênh mang, bồn chồn.
    Bài ca dao "Khăn thương nhớ ai" đã nói lên một nỗi buồn đẹp, nỗi buồn tương tư. Nó đã phản ánh tâm hồn thiếu nữ: đa tình, khao khát tình yêu hạnh phúc, băn khoăn về chuyện tình duyên. Tâm trạng ấy, tâm hồn ấy mang tính nhân văn hồn hậu.
    Và ai đã từng yêu tha thiết, yêu nồng nàn say đắm ? Và ai từng nếm vị tương tư ? Càng đọc, ta càng thấy bài ca dao rất hay, rất đậm đà ý vị.




    (Nguồn: Nhiều tác giả, 108 bài văn 10 chọn lọc, Nxb Tổng hợp TP. HCM)
    (ảnh: sưu tầm)
    Lần sửa cuối bởi emcungyeukhoahoc, ngày 17-06-2012 lúc 09:33 AM.
    I am not a scientist. I am, rather, an impresario of scientists.

  6. #6
    Vượt ngàn trùng sóng emcungyeukhoahoc's Avatar
    Ngay tham gia
    Dec 2008
    Bài viết
    4,915

    Ước gì



    Ngày xưa có anh trai cày từng mơ ước:

    "Ước gì anh lấy được nàng,

    Thì anh mua gạch Bát Tràng về xây.
    Xây dọc rồi lại xây ngang,
    Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân"...
    Bài ca dao này lại nói lên điều mơ ước của thôn nữ:
    "Ước gì sông rộng một gang,
    Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi".

    Một cách nói quá, nói giảm thật ý nhị, đậm đà: "sông rộng một gang". Cũng nói đến chuyện "bắc cầu". Vì là "cầu ái cầu ân" nên không cần cầu khỉ, câu tre lắt lẻo, câu treo, cầu mây... mà chỉ là cầu dải yếm. "Sông rộng một gang" thì chỉ cần "cầu dải yếm" là đủ, là vừa, là khéo. "Cầu dải yếm" là một hình ảnh độc đáo bậc nhất, trữ tình bậc nhất trong ca dao dân ca. Cách sông nhưng chẳng phải lụy đò vì đã có cầu dải yếm "để anh sang chơi", để đôi ta trao duyên, ước hẹn chuyện trăm năm.



    Bài ca tuyệt hay nói lên nỗi khát khao tình yêu hạnh phúc của o thôn nữ xóm Đông thôn Đoài ngày xưa. Khát vọng ấy dạt dào chất nhân văn.



    Có người nói: chữ "rước" chứ không phải chữ "để". Mong các em suy ngẫm và cân nhắc xem:
    "Ước gì sông rộng một gang,

    Bắc cầu dải yếm rước chàng sang chơi".

    (Nguồn: Nhiều tác giả, 108 bài văn 10 chọn lọc, Nxb Tổng hợp TP. HCM)
    (ảnh: sưu tầm)
    I am not a scientist. I am, rather, an impresario of scientists.

  7. #7
    Vượt ngàn trùng sóng emcungyeukhoahoc's Avatar
    Ngay tham gia
    Dec 2008
    Bài viết
    4,915

    Dải yếm




    Dải yếm – Biểu tượng văn hóa của người Việt


    http://www.vietgle.vn/diendan/showth...hu-nu-Viet-Nam

    1. Là một bộ phận không nhỏ của thơ ca dân gian, ca dao tình yêu đã để lại trong tâm hồn người đọc những ấn tượng đậm đà sâu sắc. Đó là tiếng tơ đàn muôn điệu chắt lọc từ trái tim yêu của nam nữ thanh niên nông thôn vừa mộc mạc hồn hậu, vừa tinh tế thanh cao. Tình yêu ấy được bộc lộ bằng nhiều cách khác nhau, song cách thông qua các vật dụng thông dùng của cá nhân thu hút sự chú ý hơn cả … Trong số đó chúng tôi nhận thấy chiếc dải yếm được nhắc lại nhiều lần như một môtíp, một ám ảnh nghệ thuật, một tín hiệu thẩm mĩ độc đáo mà có lẽ hiếm có sự vật khác nào có được.


    Dải yếm - biểu tượng vẻ đẹp người con gái:

    So với nhiều vật dụng đi vào ca dao như áo khăn, gương lược, bát đũa, chiếu giường, dải yếm thường gắn liền với vẻ đẹp người con gái hơn cả. Nó không chỉ là trang phục có chức năng bảo vệ, che chắn mà còn tôn thêm vẻ đẹp cho người phụ nữ. Nhắc đến dải yếm là nhắc đến người con gái xinh đẹp được khẳng định và nâng niu dưới ánh mắt của người nam tử: Tấm yếm đào sao em khéo giữ màu/ Răng đen nhưng nhức, mái tóc đầu em hãy còn xanh/ Sao em ở vậy cho đành?

    Đẹp như tiên giáng trần - đó là cách ví von quen thuộc của người bình dân khi nói về một người con gái đẹp. Dẫu cô tiên chỉ có trong trí tưởng tượng mà thôi nhưng hình ảnh về cô tiên vẫn không thể thiếu đôi dải yếm tươi tắn điểm tô: Mỗi tranh vẽ một cô tiên/ Cô đàn cô sáo, cô gõ sênh tiền đẹp sao/ Cô nào yếm cũng lòng đào/ Cô nào mắt cũng như sao trên trời. Thế đấy, người phụ nữ đẹp đâu chỉ nhờ môi thơm mắt sáng, quần lĩnh áo the mà còn nhờ em đeo dải yếm đào nữa.

    Tạo hóa đã sinh ra người phụ nữ với “vóc dáng thiên thần” để mang lại sắc hương cho cuộc đời. Không phải không có lí khi tác giả dân gian viết: Ba cô đội gạo lên chùa/ Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư/ Sư về sư ốm tương tư/ Ốm lăn ốm lóc cho sư trọc đầu. Con người ai cũng yêu cái đẹp. Nên dẫu có tếu và có phần hơi quá nhưng người đọc vẫn cảm nhận được “cô yếm thắm” kia có sức thu hút như một thỏi nam châm.

    Người con gái có lẽ đẹp nhất ở độ xuân thì với những dấu hiệu môi đỏ má hồng, yếm thắm khăn nhung. Dễ hiểu khi thấy vẻ đẹp ở người con gái “hao hụt” đi rất nhiều vì không còn mang yếm thắm: Chưa chồng yếm thắm đeo hoa/ Chồng rồi hai vú bỏ ra tày gành. Câu ca dao miêu tả sự đối lập giữa hai chân dung - hai hoàn cảnh - hai quãng đời khác nhau để từ đó khẳng định vai trò của dải yếm trong việc làm đẹp thêm cho người con gái. Nhờ nó mà vẻ đẹp của họ được tôn lên rất nhiều.

    Trong ca dao tình yêu, dải yếm đã trở thành vật dụng trang sức gần gũi thân thiết vừa che chắn bảo vệ vừa làm đẹp làm duyên cho người con gái. So với áo khăn gương lược, dải yếm có vẻ gần gũi với thịt da - nơi thể hiện rất rõ vẻ đẹp của người phụ nữ - mang hơi ấm mùi hương gợi sức quyến rũ nhiều hơn cả. Cho nên dải yếm chính là biểu tượng cho vẻ đẹp của người con gái đẹp. Họ mặc yếm đâu chỉ làm đẹp cho mình mà còn để đẹp mắt bạn tình, vì thế dải yếm trong ca dao còn là cái cớ để gặp gỡ, giao duyên, tình tự trăm năm.

    Dải yếm - cầu nối để gặp gỡ, tình tự, giao duyên:

    Trầu thường xuất hiện trong mảng ca dao cổ truyền viết về tình yêu nam nữ. “Miếng trầu là đầu câu chuyện”. Mời trầu còn để bày tỏ tình yêu: Trầu xanh cau đắng chày vàng, Cơi trầu bịt bạc, thiếp mời chàng ăn chung. Nhận trầu đồng nghĩa với nhận tình yêu – nhận lời trăm năm: Em đi ăn miếng trầu anh, Đi ra không dám vui cười với ai… Đó là quan niệm mang tính truyền thống của người dân lao động. Song ta sẽ tìm thấy sự thú vị ở cách mời trầu rất khác, táo bạo mà cũng đầy nữ tính của cô gái trong bài ca dao: Trầu anh trầu đãy, trầu khăn/ Trầu em dải yếm, có ăn em mời. Không mối lái, không cần bâng quơ, không bị động ăn trầu để rồi làm dâu nhà người, “em” rất khéo léo mà cũng rất thật khi hé mở tấm lòng thông qua dải yếm thắm. Chẳng ai tin lời mời khác người thế, nhưng không ai bắt bẻ em. Bởi vì đó là cách nói chân thành cốt để chứa đựng cái “thần” của câu ca dao. Tấm lòng yêu thương của em dành cho người con trai mình đã phải lòng. Dải yếm ở đây đã trở thành miếng trầu đặc biệt.

    Một cô gái khác dùng dải yếm để thể hiện khát vọng và tính cách theo cách riêng của mình: Ước gì dải yếm em dài/ Để em buộc lấy những hai anh chàng. Nghịch ngợm nhưng đáng yêu. Sự phóng túng trong điều ước đã bộc lộ trí tưởng tượng phong phú, dồi dào của cô gái ở độ tuổi mười tám đôi mươi. Nói chỉ để mà nói thế thôi, vì trong tim mỗi người chỉ mong ước lưu giữ một bóng hình. Ao ước của cô gái trong bài ca dao này có lẽ là khát khao yêu thương, khát khao được thể hiện chính mình.

    Cũng là điều ước nhưng hay nhất, đẹp nhất, nên thơ và gợi cảm nhất vẫn là: Ước gì sông hẹp một gang/ Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi. Con sông vốn là biểu tượng ngăn cách chia lìa, cây cầu lại là biểu tượng của sự đoàn viên, hạnh phúc. Khao khát được gần nhau cho thỏa nhớ mong đã thúc giục ước mơ bắc chiếc cầu dải yếm trong trí tưởng tượng của cô gái. “Người nữ kiến trúc sư thiên tài này” đã thiết kế nên chiếc cầu dải yếm thật độc đáo dành tặng riêng cho chàng sang chơi. Mỗi người đều có quyền mơ ước nhưng có lẽ ước mơ “bắc cầu dải yếm” riêng cho một người mà ta vẫn ngưỡng mộ là trường hợp hi hữu. Chỉ có nghệ thuật dân gian mới có thể sáng tạo ra một cái cầu như thế. Chỉ khi luôn nghĩ đến người yêu, luôn nuôi khát vọng yêu thương cháy bỏng, chân thành, người thiếu nữ mới làm nên điều kì diệu vậy. “Khi yêu cũng như khi say, con người thường thoát li điều kiện thực tế vào suy nghĩ một cách tự do, hồn nhiên theo khát vọng mãnh liệt của trái tim mình” . Thiết nghĩ, khát khao bắc chiếc cầu dải yếm qua dòng sông hẹp một gang của cô gái đâu chỉ là mong muốn thu hẹp khoảng cách địa lí thông thường mà còn là khát vọng xoá bỏ ranh giới ngăn cách trong tình yêu, ước mong về một tình yêu đủ đầy, trọn vẹn cả thể xác lẫn tâm hồn - khát vọng mang tính nhân bản, nhân văn sâu sắc. Nói như một nhà nghiên cứu, khi còn sống, đó là những ước mơ mãnh liệt, những khát khao cháy bỏng của người con gái (Ước gì dải yếm em to, Để em buộc lấy mũi đò kéo lên, Ước gì dải yếm em bền, Để em buộc lấy kéo lên trên bờ) thì đến khi chết ước mơ lại càng kì diệu đẹp đẽ hơn.

    Kiếp sau đừng hóa ra người
    Hóa ra dải yếm buộc người tình nhân

    Dải yếm thanh mảnh được đeo để che chắn, bảo vệ vị trí vốn rất gợi cảm của người phụ nữ đâu chỉ thực hiện chức năng thông thường mà còn để làm duyên, để thực hiện cái duyên thầm của mỗi người con gái. Do đó, dải yếm trong ca dao thường là cái cớ để giao duyên: Cái cò lặn lội bờ ao/ Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng? Con cò thường xuất hiện trong ca dao Việt Nam. Theo Vũ Ngọc Phan: “Trong ca dao, người lao động Việt Nam đã mượn đời sống con cò để biểu hiện đời sống của mình, và dùng hình ảnh con cò để gợi hứng, để tỏ sự mong muốn của mình … (3). Ở bài ca dao này, con cò đã thực hiện nhiệm vụ của ông tơ bà nguyệt ướm duyên giữa “chú” và “cô yếm đào”. Cái cò đã nói hộ “chú tôi” niềm mong muốn được xe duyên với “cô yếm đào” xinh xắn hay chàng trai bày tỏ lòng mình với “cô yếm đào” một cách gián tiếp mà kín đáo, thú vị ? Sự ngại ngùng không nói thẳng của người con trai có lẽ đã để lại ấn tượng khó phai trong lòng cô gái. Biết đâu đó lại là bậc thang đầu tiên cho một mối tình.

    Nếu chàng trai ở bài ca dao trên mượn cái cò mai mối thì chàng trai trong bài ca dao này mạnh dạn trong việc bày tỏ ý muốn của mình với “yểu điệu thục nữ” mà chàng “hảo cầu”: Hỡi cô yếm thắm loà xoà/ Lại đây đập đất trồng cà với anh/ Khi nào cà lớn cà xanh/ Anh cho một quả để dành mớm con. Vậy đấy, ấn tượng đầu tiên đập vào mắt chàng trai không phải là giọng nói, tiếng cười, không phải là cái áo, chiếc khăn mà là “yếm thắm loà xoà”. Yếm thắm hẳn là yếm màu đỏ và rất tươi. “Loà xoà” là từ láy tượng hình diễn tả chiếc yếm thắm buông xuống rất tự nhiên. Sự kết hợp của hai từ “yếm thắm” và “loà xoà” đã góp phần khơi gợi trong trí tưởng tượng của người đọc một vẻ đẹp rất ấn tượng, vừa kín đáo, đằm thắm, vừa gợi cảm quyến rũ của cô gái. Qua câu mời gọi “hỡi cô yếm thắm loà xoà” là lời nhờ “lại đây đập đất trồng cà với anh”. Chàng trai không nhờ kín đáo là “cô ấy” (như trong bài ca dao “Hôm qua tát nước đầu đình”) mà nhờ thẳng “cô yếm thắm loà xoà” đang đối diện. Không cần vòng vo tam quốc, chàng trai thổ lộ khát khao được chia ngọt sẻ bùi, cùng lao động với bạn tình để giúp nhau xây dựng cuộc sống gia đình.

    Tưởng chừng chỉ yếm thắm mới khiến chàng trai ngỏ ý ướm lời. Nhưng ở một bài ca dao khác, chính sự mộc mạc chân chất và có phần vất vả của cô gái mặc yếm trắng loà xoà kia lại đánh thức tình cảm chân thành của chàng trai: Hỡi cô yếm trắng loà xoà/ Sao cô không bảo mẹ già nhuộm thâm/ Ước gì anh được ở gần/ Để anh nhuộm hộ thấm nhuần công anh. Nếu yếm thắm với màu đỏ tươi tắn thường được gắn liền với sự sung sướng, hạnh phúc cũng như vẻ đẹp nhan sắc thì yếm trắng trong bài ca dao cho thấy hoàn cảnh cực nhọc, vất vả, neo đơn, không được chăm sóc của cô gái. Có phải chăng vì dãi nắng dầm sương, vì tất tả bộn bề không ai đỡ đần trong công việc nên yếm thắm đã bạc màu thành yếm trắng? Hay yếm trắng chưa được nhuộm thắm màu vì khó khăn vất vả còn nhiều? Điều đặc biệt ở đây là “yếm trắng loà xoà” đã là cái cớ để chàng trai mở lòng mình với cô gái. Một sự ao ước giản dị mà tinh tế : “Ước gì anh được ở gần, để anh nhuộm hộ thấm nhuần công anh”. Ao ước được “ở gần” để giúp em nhuộm thắm màu chiếc yếm. Như vậy, dải yếm ở đây còn là gì khác nếu không phải là “nhịp cầu nối những bờ vui”, là mối lương duyên của ông tơ bà nguyệt run rủi, xe kết để những chàng trai cô gái vốn xa lạ nhau, chú ý đến nhau, quen nhau, và biết đâu còn yêu nhau, xây dựng hạnh phúc lâu dài!

    Ca dao trữ tình thường chứa đựng quan niệm thẩm mĩ, sự yêu ghét rạch ròi của nhân dân lao động. Bài ca dao “Mười thương” đã hội tụ đầy đủ vẻ đẹp hình thức và tính nết của một cô gái. Trong vẻ đẹp hình thức chúng tôi thấy xuất hiện bóng dáng dải yếm: Năm thương cổ yếm đeo bùa. Phải chăng “bùa” được nói ở đây là bùa yêu vì dải yếm làm toát lên vẻ đẹp kiêu sa, lôi cuốn của hình thức mà không kém phần đằm thắm, duyên dáng, đoan trang của tính cách? Và cũng chính nó đã làm thổn thức trái tim của biết bao chàng trai thầm thương, trộm nhớ đêm ngày.

    Quả thật, dải yếm đã trở thành cái cớ để kí thác tâm tư, mời gọi giao duyên, tình tự trăm năm. Có lẽ vì nó luôn gắn liền với người phụ nữ và hơn thế, nó giúp người phụ nữ tôn lên vẻ đẹp vốn có mà tạo hóa đã ban tặng riêng cho họ; vì dải yếm gợi cảm mang hương yêu mùi nhớ, mang hơi ấm và nhịp đập trái tim người con gái, làm dấy lên khát khao hạnh phúc lứa đôi.

    Dải yếm – biểu tượng thiêng liêng, kì diệu của tình yêu, son sắt:

    Tình yêu được ví như trái cây, phải trải bao năm nhung tháng nhớ, qua nắng giận mưa hờn để đến mùa ửng chín ngọt ngào. Nếu dải yếm là biểu tượng cho vẻ đẹp người con gái, vì đó mà trở thành cái cớ để những chàng trai cô gái gặp gỡ, giao duyên thì cố nhiên dải yếm còn là biểu tượng thiêng liêng, kì diệu cho một tình yêu thuỷ chung son sắt. Ơ bài ca dưới đây, dải yếm đã đi vào nỗi nhớ: Mình về có nhớ ta chăng/ Ta như lạt buộc khăng khăng nhớ mình/ Ta về ta cũng nhớ mình/ Nhớ yếm mình mặc, nhớ tình mình trao. Tình yêu gắn liền với nỗi nhớ. Có nhớ mới có yêu. Chỉ qua cách xưng hô tha thiết, thân mật “mình - ta” đã thể hiện tình yêu sâu đậm. Tình yêu ấy còn hiện hình trong trí nhớ của “ta” mang về. Nỗi nhớ không mông lung xa vời, không ảo ảnh vô định mà cụ thể rõ ràng bởi xuất phát từ một tình yêu có thật : “Nhớ yếm mình mặc, nhớ tình mình trao”. Thật tinh tế, dung dị. Thật thông minh, kín đáo. Chàng trai đã thổ lộ những tín hiệu ngầm chỉ hai người biết. “Yếm mình mặc” có màu sắc gì, mùi hương gì - chỉ có “ta” và “mình” biết, còn “ tình mình trao” cũng chỉ có “ mình” và “ta” mới thấu hiểu. Chỉ có tám chữ mà chàng trai đã nói được rất nhiều điều. Chính sự súc tích ấy đã nâng tầm tình yêu của họ!

    Ca dao là hình thức tâm tình của những chàng trai cô gái. Với cô gái, dải yếm nhiều khi đã giúp họ thổ lộ tâm tư: Thương anh chẳng biết để đâu/ Đùm đầy dải yếm lâu lâu lại nhìn. Tình yêu là gì ? Làm sao mà nói được. Chẳng phải ông hoàng của thơ tình đã từng quả quyết: “đố ai định nghĩa được tình yêu”, hay nữ thi sĩ Xuân Quỳnh thổn thức: “em cũng không biết nữa,khi nào ta yêu nhau” đó sao? Bởi lẽ tình yêu có quá nhiều sắc thái, lắm tầng bậc mà mỗi người đều có cách yêu và biểu hiện tình yêu theo cách của riêng mình. Cô gái trong bài ca dao này thật độc đáo khi bộc lộ niềm thương nỗi nhớ: “thương anh chẳng biết để đâu” nên mới để vào nơi dải yếm - bởi đó là tâm điểm của nỗi nhớ. Dải yếm còn gì khác hơn là biểu tượng cho tình yêu thắm thiết, mãnh liệt vững bền? Nhìn dải yếm là nhìn thấy tình mình trong đó. Hồn nhiên, chân thành song không kém phần đắm say, lãng mạn, nồng nàn của tuổi trẻ. Tình yêu giúp con người ta lớn hơn mình đã lớn, trưởng thành hơn mình đã trưởng thành, và làm được những việc tưởng chừng không thể: Đêm nằm đắp chục chiếc chăn/ Làm sao sánh được ấm bằng yếm em. Cái nghịch lí ở đây là “chục chiếc chăn” mà không ấm bằng chiếc yếm mỏng manh bé nhỏ bởi lẽ câu ca dao chứa đựng cái tình trong đó. Việc lý tưởng hoá vẻ đẹp của người yêu và coi trọng tất cả những gì thuộc về người yêu cũng là điều dễ hiểu. Nên hơi ấm toả ra từ dải yếm em mà chàng trai cảm nhận được hơn cả chục chiếc chăn cũng là điều chấp nhận được.

    Táo bạo hơn, mạnh dạn hơn một chàng trai khác đã khẳng định sức mạnh vô song mà dải yếm tình yêu mang lại: Trời mưa, trời gió kìn kìn/ Đắp đôi dải yếm hơn nghìn chăn bông. Mưa gió vốn đã chứa đựng cái ẩm ướt lạnh lẽo, rét mướt, thêm vào đó từ láy tượng hình “kìn kìn” càng làm tăng thêm sự khắc nghiệt của thời tiết mùa đông. Cứ ngỡ trong điều kiện tự nhiên như thế, con người ta không thể chống chọi, không thể vượt qua sự buốt lạnh kèm theo nỗi buồn và cảm giác cô đơn kéo dài. Nhưng kì diệu thay, chính trong thời khắc ấy, chàng trai lại cảm thấy ấm áp vì bên anh đã có đôi dải yếm của người yêu,vì tim anh đã đầy ắp tình yêu và kì vọng vào một tương lai tốt đẹp vững bền : “đắp đôi dải yếm hơn nghìn chăn bông”. Dẫu biết rằng chàng trai thi vị hóa, lí tưởng hóa, thoát li khỏi hiện thực cuộc sống để tận hưởng sự ấm áp kì lạ từ đôi dải yếm của người yêu song ta cũng thừa nhận rằng tình yêu đã làm cuộc đời anh thăng hoa. Sự đối lập giữa “đôi” với “nghìn”, “dải yếm” với “chăn bông” càng làm tăng gấp bội sức mạnh của một tình yêu đích thực. Phải chăng bài ca dao muốn gửi đến thông điệp: Hãy biết trân trọng đời sống tinh thần. Vì chính sức mạnh tinh thần sẽ “sưởi ấm tâm hồn, xua tan cái cái lạnh lòng đáng sợ” (4) giúp con người vượt lên sự tẹp nhẹp, lo toan và khắc nghiệt của cuộc sống? Đến với bài ca dao khác ta sẽ cảm nhận được sức mạnh mới mà đôi dải yếm mang lại: Thuyền anh mắc cạn lên đây/ Mượn đôi dải yếm làm dây kéo thuyền. Thật ngộ nghĩnh và dễ mến. Một cái cớ được đặt ra thật lạ mà có lẽ chỉ có trong ca dao, ở lối tư duy đặc biệt của người đang yêu. Chẳng biết thuyền anh đi đâu mà mắc cạn lên đây, sao không mượn gì mà mượn đôi dải yếm? Ai cũng biết dải yếm đâu thể dùng làm dây huống hồ lại làm dây kéo thuyền mắc cạn. Thực ra đây chỉ là ngụy cớ vì nó ngược với logic thông thường. Vậy đằng sau cái cớ tưởng chừng “vớ vẩn” này là gì? Còn gì khác hơn là thừa nhận sự quan trọng của đôi dải yếm? Chỉ có đôi dải yếm em đeo mới giúp được thuyền anh vượt qua khó khăn. Và cũng chỉ nhờ yếm em, thuyền anh mới có thể sinh tồn, trở về nơi sông bể. Yếm em chính là tình em. Thuyền anh, vì thế cũng trở thành thuyền tình khát khao vượt qua sông ngăn cách để cập bến tình duyên. Sự thổ lộ của chàng trai quả thật rất khéo léo. Mượn chuyện dải yếm để khẳng định một chân lí: “sức mạnh của tình yêu là vô địch” (5), chỉ có tình yêu mới mang lại cho cuộc sống ý nghĩa đích thực, đưa con người về với cộng đồng dân tộc, với quê hương xứ sở của mình, chỉ khi ấy con người mới có điều kiện phát huy thế mạnh của mình, và thật là chính mình.

    Tình yêu cần thiết cho cuộc sống, nhưng không phải tình yêu nào cũng cập được bến bờ hạnh phúc, “hôm nay yêu mai có thể xa rồi” (Xuân Quỳnh). Dễ thấy đôi lứa yêu nhau thường trao kỉ vật cho nhau và thề nguyền chung thủy vì hi vọng đó là nhân chứng, vật chứng tượng trưng cho sự vĩnh hằng tình yêu của họ. Vậy mà: Dưới mặt đất chói loà yếm đỏ/ Trên bầu trời rạng tỏ mây xanh/ Từ ngày chia rẽ em anh/ Nước trời còn đó, ai đành phụ nhau. Ở đây dải yếm lại xuất hiện như một kỉ vật thiêng liêng sóng đôi với bầu trời mặt đất để chứng giám cho một tình yêu đã nguyện ước. Lời thề nguyền còn đó mà người đã phụ nhau. “Ai đành” chứa đựng nỗi đau của người lỡ làng duyên kiếp. Bài ca dao khép lại với đại từ phiếm chỉ “ai” còn đau đáu lòng người ở lại với lí trí cho biết rằng: ai thật lòng yêu ai đến bây giờ đã biết.

    Đến với bài ca dao đối đáp nổi tiếng ta sẽ lí giải cái phi lí trong sự chuyển đổi màu sắc hoa:- Hoa cúc vàng nở ra hoa cúc tím/ Em lấy chồng rồi trả yếm cho anh/ - Hoa cúc vàng nở ra hoa cúc xanh/ Yếm em em mặc, yếm gì anh anh đòi ! Đây là lời đối đáp của đôi nam nữ đã từng có một tình yêu sâu đậm nhưng giờ đây phải nhận lấy những nỗi trái ngang, phũ phàng. Sắc màu của hoa cúc đã trở thành sắc màu của thái độ, của tâm trạng, của ảo giác. Lẽ thường họ cúc vàng phải nở ra hoa cúc vàng, thế mới thuận tình hợp lí. Nhưng ở đây lại hoàn toàn khác. Với cô gái: “hoa cúc vàng nở ra hoa cúc tím”; với chàng trai: “hoa cúc vàng nở ra hoa cúc xanh”. Sự biến đổi màu hoa cốt để nói về dải yếm – cũng là tình yêu của họ. Nhắc đến dải yếm là nhắc đến kỉ niệm của một thời yêu nhau, có nhau. Dải yếm ngày nào cùng trân trọng, nâng niu giờ trở thành vật trao qua trả lại: Hoa cúc vàng nở ra hoa cúc tím/ Em lấy chồng rồi trả yếm cho anh. Với cô gái, tình yêu không còn thì kỉ vật còn đâu ý nghĩa ban đầu của nó. Giữ làm chi cho buồn lòng. Trước khi lấy chồng, cô muốn “xoá hết nợ nần” nhỡ lắm muộn phiền cho ngày sau. Cách duy nhất cô quyết định: “trả yếm lại cho anh” – mong quên được quá khứ. Đây là tâm lí chung của các cô gái khi phải theo chồng. Còn chàng trai thì: Hoa cúc vàng nở ra hoa cúc xanh/ Yếm em em mặc, yếm gì anh anh đòi. Chàng cũng có vui gì khi tình yêu không thành. “Hoa cúc vàng” dưới ánh mắt đầy tâm trạng “nở ra hoa cúc xanh”. Chẳng biết chàng trai trong bài ca dao này có đồng cảm với chàng trai trong bài ca dao “Trèo lên cây bưởi hái hoa” khi nhìn thấy màu xanh biếc của nụ tầm xuân hay không ? Chỉ biết rằng chàng trai không muốn kết cục này xảy ra : anh không nhận yếm em trả lại vì cớ “yếm em em mặc, yếm gì anh anh đòi”. Người con trai khẳng định tình yêu ấy là có thật dẫu duyên không thành. Mong dải yếm luôn bên em che chắn, bảo vệ và tô điểm cho em dẫu quãng đời còn lại của em không có anh. Riêng anh không đòi hỏi gì thêm nữa vì “tình đã cho không lấy lại bao giờ” (Xuân Diệu). Một tình yêu chân thành, cao đẹp của người bình dân thuở xưa khiến chúng ta ngày nay không khỏi bùi ngùi, cảm thương, trân trọng.

    Như thế, dải yếm thật có lí khi trở thành kỉ vật thiêng liêng cho tình yêu. Đi vào ca dao, nó đã thoát khỏi chức năng trang phục thông thường của người phụ nữ, trở thành tâm điểm của nỗi nhớ, nỗi khát khao nồng nàn trong tình yêu lứa đôi.

    2. Cái cớ để bộc lộ tâm tư, cái cách bộc lộ tâm trạng của người chớm yêu, đang yêu và đã yêu thông qua dải yếm mà chúng tôi đã khảo sát và phân tích cho thấy rằng dải yếm có tầm quan trọng đặc biệt trong ca dao tình yêu. Tác giả dân gian đã khéo léo thổi hồn mình vào dải yếm thanh mảnh, biến nó thoát khỏi chức năng thông thường để trở nên sinh động, ẩn chứa tình cảm nỗi niềm khát khao tình yêu, hạnh phúc và óc thông minh hóm hỉnh của mình. Nói như tác giả Trần Thị Trâm: “So với áo, khăn, gương, lược thì cái mảnh dải yếm thắm bé nhỏ có vẻ gần gũi với thịt da hơn, nó chứa đựng sự khát khao thầm kín về sự gắn bó,va chạm tiếp xúc về thân thể… Vì vậy trong dân gian cái dải yếm thường là vật biểu trưng của tình yêu đã đến độ sâu nặng vững bền, một tình yêu trong sáng thuỷ chung…” (6). Nhìn từ góc độ thi pháp, dải yếm - cũng như thuyền, bến, áo, khăn,… - hoàn toàn có thể trở thành một biểu tượng trong ca dao tình yêu - biểu tượng vẻ đẹp của người con gái, của tình yêu thủy chung sâu nặng, son sắt, vững bền…

    Mỗi lần thưởng thức thơ ca dân gian là mỗi lần ta lắng lòng và nghe thấy trong đó tiếng tơ đàn muôn điệu của quần chúng nhân dân lao động. Đặc biệt tìm hiểu ý nghĩa của dải yếm trong ca dao tình yêu, ta không chỉ nhận ra rằng tình yêu của những người tưởng chừng chỉ biết mỗi việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy ấy lại rất đẹp và đáng trân trọng biết bao mà còn thấy rất rõ đời sống lao động và đời sống văn hoá tinh thần của họ. Đó là đời sống của những con người quanh năm “cấy cày ruộng sâu, ở trong làng bộ” (thuộc nền văn minh nông nghiệp lúa nước). Đó là tập quán ăn trầu, là lối hát giao duyên đối đáp của người bình dân xưa trong những lần lao động, vào những đêm trăng sáng. Đó còn là chất hóm hỉnh mà chân thành, bộc trực mà không kém phần khéo léo, hồn nhiên mộc mạc mà tinh tế sâu sắc. Đó là sự quý trọng tình cảm, lối sống chung thuỷ nghĩa tình, là khát vọng đời sống hạnh phúc gia đình đậm tính nhân bản, nhân văn. Đó còn là sự trân trọng, nâng niu người phụ nữ - thiên tính nữ - của cội nguồn dân tộc (dấu ấn của chế độ mẫu hệ). Do vậy tìm hiểu sự kì diệu của đôi dải yếm sẽ giúp ta hiểu hơn đời sống văn hoá tâm hồn của người bình dân Việt Nam xưa. Điều này sẽ có nhiều thuận lợi khi nghiên cứu ca dao tình yêu nói riêng, văn học dân gian nói chung.
    Lê Tấn Thích
    (nguồn lucbat.com )
    I am not a scientist. I am, rather, an impresario of scientists.

  8. #8
    Vượt ngàn trùng sóng emcungyeukhoahoc's Avatar
    Ngay tham gia
    Dec 2008
    Bài viết
    4,915

    Hát ru








    Từ lâu, những người nuôi trẻ nhỏ khắp trên thế giới đã biết dỗ chúng ngủ bằng cách hát ru con. Hát ru là những bài hát nhẹ nhàng đơn giản giúp trẻ con ngủ. Phần lớn các câu trong bài hát ru con lấy từ ca dao, đồng dao, hay trích từ các loại thơ hoặc hò dân gian được truyền miệng từ bà xuống mẹ, thế hệ trước sang thế hệ sau. Do đó, những bài hát này rất đa dạng, mang tính chất địa phương, gần như mỗi gia đình có một cách hát riêng biệt.

    Trong hát ru thường chỉ chú ý đến lời (ca từ) còn giai điệu (nhạc lý) thì mỗi bà mẹ có một giọng trữ tình riêng nhưng vẫn gây ấn tượng sâu sắc trong suốt cả cuộc đời người con.

    Dưới góc độ khoa học thì hát ru là những kích thích rất có lợi không những với sự phát triển ngôn ngữ, tâm lí, sinh lí mà còn cả phát triển thể chất nữa. Đó là sự kích thích tiền đình và nhiều người đã xác nhận rằng những trẻ hằng ngày được kích thích bằng hát ru (khoảng 10 phút) thì phản xạ vận động tốt hơn nhiều so với trẻ không được nghe hát ru (theo nghiên cứu của Đại học Ohio).

    Ru con Việt Nam



    Bắc bộ

    • Con cò mà đi ăn đêm
    À ơi ...
    Con cò mày đi ăn đêm
    Đậu phải cành mềm Lộn cổ xuống ao
    À ơi ...
    Ông ơi, ông vớt tôi nao
    Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng
    À ơi ...
    Có xáo thì xáo nước trong
    Đừng xáo nước đục Đau lòng cò con ...

    • Cái ngủ
    Cái ngủ mày ngủ cho ngoan

    Để mẹ đi cấy đồng xa trưa về
    Bắt được con trắm con trê
    Thòng cổ mang về cho cái ngủ ăn
    Cái ngủ ăn không hết để dành đến tết mùng ba
    Mèo già ăn vụng, mèo ốm phải đòn
    Mèo con phải vạ, con quạ chết trôi
    Con ruồi đứt cánh, đòn gánh có mấu
    Củ ấu có sừng, châu chấu có chân
    Bồ quân có rễ, cây nghệ có hoa
    Cây cà có trái
    Con gái có chồng, đàn ông có vợ
    kẻ chợ buôn bè
    cây tre có lá, con cá có vây
    Ông thầy có sách, thợ gạch có dao
    Thợ cào có búa, xay lúa có giàn
    Việc làng có mỡ, ăn cỗ có phần
    cái ngủ mày ngủ cho lâu à…ơi…à…ơi



    Trung bộ


    1. Cái quán giữa đàng
    Bạn hàng trước ngõ
    Cây hương bên tàu
    nhỏ nhụy thơm xa
    (Chớ) anh có đi mô lâu
    cũng nhớ ghé vô thăm chén ngọc ve ngà
    dù gần cũng nghĩa
    dù xa cũng tình...
    1. Bạn chào ta có ân có ái
    Ta chào lại bạn có nghĩa có nhơn
    May mô may quyển lại gặp đờn
    Quyển kêu thánh thót còn tiếng đờn thì ngâm nga
    Nhắn em về nói với mẹ cha
    Dọn đàng quét ngõ tháng ba dâu về
    Dâu về không lẽ về không?
    Ngựa Ô đi trước ngựa Hồng theo sau
    Ngựa Ô đi tới vạt cau
    Ngựa Hồng thủng thỉnh đi sau vạt chè...

    Nam bộ


    Ầu ơ ... ví dầu
    Cầu ván đóng đinh
    Cầu treo lắc lẻo
    Gập ghềnh khó qua
    ...
    Ầu ơ ...
    Khó qua mẹ dắt con qua...
    Con đi trường học
    Mẹ đi trường đời ...


    (theo Wikipedia)
    I am not a scientist. I am, rather, an impresario of scientists.

+ Trả lời Chủ đề

Các Chủ đề tương tự

  1. Bài tập đọc hiểu
    Bởi tina21 trong diễn đàn Sơ cấp
    Trả lời: 17
    Bài viết cuối: 03-08-2012, 02:47 PM
  2. Bác sĩ giúp tìm Bin Laden bị xử tù
    Bởi xathutreonhanhdudu trong diễn đàn Quốc tế
    Trả lời: 0
    Bài viết cuối: 25-05-2012, 11:37 AM
  3. Strong opinion nên hiểu thế nào cho đúng?
    Bởi wulfenite trong diễn đàn Từ vựng
    Trả lời: 2
    Bài viết cuối: 04-05-2012, 12:53 PM
  4. Tìm hiểu về từ "UP"
    Bởi Clementine trong diễn đàn Nguồn gốc từ
    Trả lời: 0
    Bài viết cuối: 28-02-2012, 03:29 PM
Quyền viết bài
  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình