+ Trả lời Chủ đề
Trang 1 của 6 1 2 3 ... CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 60

Chủ đề: Làng nghề truyền thống của người Việt

  1. #1
    Vượt ngàn trùng sóng yenminh0210's Avatar
    Ngay tham gia
    Apr 2009
    Bài viết
    2,309

    Làng nghề truyền thống của người Việt

    Làng nghề Việt Nam, làng nghề thủ công, làng nghề truyền thống, hoặc làng nghề cổ truyền ..., thường được gọi ngắn gọn là làng nghề, là những làng mà tại đó hầu hết dân cư tập trung vào làm một nghề duy nhất nào đó; nghề của họ làm thường có tính chuyên sâu cao và mang lại nguồn thu nhập cho dân làng.
    Cùng với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp từ hàng ngàn năm trước đây, nhiều nghề thủ công cũng đã ra đời tại các vùng nông thôn Việt Nam, việc hình thành các làng nghề bắt đầu từ những nghề ban đầu được cư dân tranh thủ làm lúc nông nhàn, những lúc không phải là mùa vụ chính.
    Bởi lẽ trước đây kinh tế của người Việt cổ chủ yếu sống dựa vào việc trồng lúa nước mà nghề làm lúa không phải lúc nào cũng có việc. Thông thường chỉ những ngày đầu vụ, hay những ngày cuối vụ thì người nông dân mới có việc làm nhiều, vất vả như: cày bừa, cấy, làm cỏ (đầu vụ) cho đến gặt lúa, phơi khô... còn những ngày còn lại thì nhà nông rất nhàn hạ, rất ít việc để làm. Từ đó nhiều người đã bắt đầu tìm kiếm thêm công việc phụ để làm nhằm mục đích ban đầu là cải thiện bữa ăn và những nhu cầu thiết yếu hằng ngày về sau là tăng thêm thu nhập cho gia đình.

    Theo thời gian, nhiều nghề phụ ban đầu đã thể hiện vai trò to lớn của nó, mang lại lợi ích thiết thân cho cư dân. Như việc làm ra các đồ dùng bằng mây, tre, lụa... phục vụ sinh hoạt hay đồ sắt, đồ đồng phục vụ sản xuất. Nghề phụ từ chỗ chỉ phục vụ nhu cầu riêng đã trở thành hàng hóa để trao đổi, đã mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho người dân vốn trước đây chỉ trông chờ vào các vụ lúa. Từ chỗ một vài nhà trong làng làm, nhiều gia đình khác cũng học làm theo, nghề từ đó mà lan rộng ra phát triển trong cả làng, hay nhiều làng gần nhau.

    Và cũng chính nhờ những lợi ích khác nhau do các nghề thủ công đem lại mà trong mỗi làng bắt đầu có sự phân hóa. Nghề đem lại lợi ích nhiều thì phát triển mạnh dần, ngược lại những nghề mà hiệu quả thấp hay không phù hợp với làng thì dần dần bị mai một. Từ đó bắt đầu hình thành nên những làng nghề chuyen sâu vào một nghề duy nhất nào đó, như làng Gốm, làng làm chiếu, làng làm lụa, làng làm đồ đồng...

    Những phát hiện về khảo cổ học, những cứ liệu lịch sử đã chứng minh được các làng nghề Việt Nam đã ra đời từ hàng ngàn năm trước đây[cần dẫn nguồn]. Các làng nghề thường tập trung chủ yếu ở các vùng châu thổ sông lớn như châu thổ sông Hồng, tại Hà Nội, Hà Tây, Bắc Ninh, Thái Bình, Nam Định ...


    Làng lụa Hà Đông






    Làng lụa Hà Đông hay chính là Làng lụa Vạn Phúc, nay thuộc phường Vạn Phúc, thuộc quận Hà Đông, cách trung tâm Hà Nội khoảng 10km. Đây là một làng nghề dệt lụa tơ tằm đẹp nổi tiếng từ xa xưa, có nhiều mẫu hoa văn và lâu đời bậc nhất Việt Nam. Lụa Vạn Phúc từng được chọn may quốc phục dưới các đời vua nhà Nguyễn.
    Nằm bên bờ sông Nhuệ, làng lụa Vạn Phúc vẫn còn giữ được ít nhiều nét cổ kính quê ngày xưa như hình ảnh cây đa cổ thụ, giếng nước, sân đình, buổi chiều vẫn họp chợ dưới gốc đa trước đình. Làng lụa Vạn Phúc từ lâu đã rất nổi tiếng với nghề dệt lụa truyền thống. "Lụa Hà Đông" cũng như các sản phẩm thủ công truyền thống của các làng nghề Hà Nội, thường được nhắc đến trong thơ ca xưa. Trong nhiều gia đình, khung dệt cổ vẫn được giữ lại, xen lẫn với các khung dệt cơ khí hiện đại.
    Theo truyền thuyết, cách đây khoảng 1200 năm, bà A Lã Thị Nương là vợ của tướng quân Cao Biền theo chồng sang nước Nam cai trị. Bà ở hành cung ngoài thành Đại La và đi thăm thú các nơi. Đến trang Vạn Bảo,( Nay là làng Vạn Phúc do tên cũ trùng với tên vua nhà Nguyễn nên phải đổi) thấy dân tình hiền hoà, lại có cảnh đẹp bên dòng sông Nhuệ nên bà ở lại, dạy dỗ nhân dân cách làm ăn và truyền nghề dệt lụa. Sau khi mất, bà được phong làm thành hoàng làng.
    Lụa Vạn Phúc được giới thiệu lần đầu ra quốc tế tại các hội chợ Marseille (1931) và Paris (1938), được người Pháp đánh giá là loại sản phẩm tinh xảo của vùng Đông Dương thuộc Pháp, rất được ưa chuộng tại các nước Pháp, Thái Lan, Indonesia... Từ 1958 đến 1988, sản phẩm lụa Vạn Phúc hầu hết được xuất sang các nước Đông Âu; từ 1990 xuất khẩu ra nhiều quốc gia trên thế giới, thu ngoại tệ về cho đất nước.
    Vạn Phúc hiện có 785 hộ dân làm nghề dệt, chiếm gần 60% trên tổng số hộ sinh sống tại làng nghề. Hàng năm, Vạn Phúc sản xuất từ 2,5 đến 3 triệu m2 vải, chiếm 63% doanh thu của toàn bộ làng nghề (khoảng 27 tỷ đồng). Hiện nay, Vạn Phúc có trên 1.000 máy dệt và hàng ngày có khoảng 400 lao động thời vụ từ quanh vùng đến đây làm việc. Cửa hàng bán lụa tơ tằm mọc lên ngày càng nhiều, hình thành ba dãy phố lụa với trên 100 cửa hàng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của du khách.

  2. #2
    Vượt ngàn trùng sóng yenminh0210's Avatar
    Ngay tham gia
    Apr 2009
    Bài viết
    2,309

    Re: Làng nghề truyền thống của người Việt

    Tranh Hàng Trống
    Tranh Hàng Trống một trong những dòng tranh dân gian Việt Nam được làm chủ yếu tại phố Hàng Nón, Hàng Trống của Hà Nội xưa. Hàng Trống xưa kia thuộc đất cũ của thôn Tự Pháp, tổng Tiêu Túc (sau đổi thành Thuận Mỹ), huyện Thọ Xương, nay thuộc quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Phố Hàng Trống nằm kề các phố Hàng Nón, Hàng Hòm, Hàng Quạt... là nơi chuyên sản xuất cả đồ thủ công mỹ nghệ nhất là đồ thờ như : tranh thờ, trống, quạt, lọng, cờ... Dòng tranh này hiện nay gần như đã bị mai một hết, chỉ còn lưu giữ trong các viện bảo tàng. Chính vì vậy, những nghệ nhân vẽ tranh Hàng Trống giảm hẳn. Hiện, chỉ còn duy nhất nghệ nhân Lê Đình Nghiên còn gắn bó với nghệ thuật tranh Hàng Trống và những nét tinh hoa của dòng tranh này.


    Sơ lược
    Dòng tranh này cũng như các dòng tranh phổ biến khác đều có hai dòng tranh chính là tranh thờ và tranh Tết. Nhưng chủ yếu là tranh thờ dùng trong sinh hoạt tín ngưỡng phục vụ đền phủ của Đạo giáo nhất là tranh thờ của Đạo Mẫu (Mẫu Liễu Hạnh ở phủ giầy, Nam Đình), như tranh Tứ Phủ cộng đồng, Bà chúa thượng ngày, Mẫu Thoải, Ngũ Hổ, Ông Hoàng cưỡi cá, cưỡi ngựa, cưỡi rắn, Ông Hoàng Mười, Bà Chúa Ba, Đức Thánh Trần... rất cầu kỳ. Loại tranh này thường được các cụ chạm bằng vàng hay bạc thật dát mỏng. Tranh Tết thì Chúc phúc, Tứ quí, ...
    .
    Tố nữ - Tranh Hàng Trống

    Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng có lẽ dòng tranh Hàng Trống xuất hiện từ khoảng 400 năm trước đây. Và chịu ảnh hưởng rõ rệt của các luồng tư tưởng, văn hoá, tôn giáo, của vùng miền, các dân. Là kết quả của sự giao thoa tinh hoa giữa Phật giáo, Nho giáo; giữa loại hình tượng thờ, điêu khắc ở đình, chùa với những nét đẹp trong sinh hoạt văn hoá hằng ngày.
    Dòng tranh Hàng Trống thực sự phát triển cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX nhưng tới thế kỷ 20 dòng tranh này bắt đầu suy tàn, nhất là kể từ sau kết thúc chiến tranh Việt Nam hầu như các nhà làm tranh đều bỏ nghề. Nhiều nhà còn đốt bỏ hết những dụng cụ làm tranh như ván, bản khắc, một phần do thú chơi tranh của người Hà Nội đã đổi khác, một phần do việc làm tranh không có thu nhập cao nên nhiều người đã chuyển nghề.
    Đặc điểm
    Cách in ấn và vẽ
    Tranh Hàng Trống sử dụng kỹ thuật nửa in nửa vẽ, tranh chỉ in ván nét lấy hình, còn màu là thuốc nước, tô bằng bút lông mềm rộng bản, một nửa ngọn bút chấm màu, cỡn nửa ngọn bút kia chấm nước lã, tô tranh theo kỹ thuật vờn màu.
    Tranh chỉ có một bản đen đầu tiên, sau khi in thì tranh được tô màu lại bằng tay. Từ các bản khắc gốc, những bức tranh đã được in ra, bằng mực Tàu mài nguyên chất. Sau đó là công đoạn bồi giấy. Tùy thuộc từng tranh cụ thể mà có tranh chỉ bồi một lớp, có tranh lại phải bồi đến 2 hay 3 lớp giấy. Khi hồ đã khô thì mới có thể vẽ mầu lại. Có khi phải mất đến 3, 4 ngày mới hoàn thành một bức tranh.
    Tranh được in trên giấy dó bồi dầy hay giấy báo khổ rộng. Có những tranh bộ khổ to và dài, thường bồi dầy, hai đầu trên dưới lồng suốt trục để tiện treo, phù hợp với kiểu kiến trúc nhà cao, cửa rộng nơi thành thị.
    Ván khắc được làm bằng gỗ lồng mực hoặc gỗ thị. Mực in truyền thống dùng bằng những chất liệu dân dã nhưng cầu kỳ và tinh xảo trong chế tác.
    Màu sắc và cách tạo màu
    Tranh dùng các gam màu chủ yếu là lam, hồng đôi khi có thêm lục, đỏ, da cam, vàng... Tỷ lệ được tạo không hề đúng với công thức chuẩn mà chỉ để cho thật thuận mắt và ưa nhìn.
    Màu đen của tranh được làm từ tro rơm nếp hay tro lá tre được đốt và ủ kỹ, màu vàng từ hoa hoè, màu chàm của các loại nguyên liệu từ núi rừng, màu son của sỏi đồi tán nhuyễn. Những màu sắc đó được pha với dung dịch hồ nếp cổ truyền tạo cho tranh một vẻ óng ả và trong trẻo mà các loại màu hiện đại không thể nào có được.
    Đề tài nội dung và thể thức tranh
    Đề tài của tranh rất phong phú nhưng chủ yếu là tranh thờ như: Hương chủ, Ngũ hổ, Độc hổ, Sơn trang, Ông Hoàng Ba, Ông Hoàng Bẩy... Ngoài ra cũng có những bức tranh chơi như các bộ Tứ Bình (4 bức) hoặc Nhị bình (2 bức). Tứ bình thì có thể là tranh Tố nữ, Tứ dân (ngư, tiều, canh, mục) hoặc Tứ quý (Bốn mùa). Tứ bình còn có thể trình bày theo thể liên hoàn rút từ các truyện tích như Nhị độ mai, Thạch Sanh, Truyện Kiều. Nhị bình thì vẽ những đề tài như "Lý ngư vọng nguyệt" (Cá chép trông trăng) hoặc "Chim công múa" có tính cách cầu phúc, thái bình. Những bức về đề tài dân dã như cảnh "Chợ quê" hay "Canh nông chi đồ" cũng thuộc loại tranh Hàng Trống.

  3. #3
    Vượt ngàn trùng sóng yenminh0210's Avatar
    Ngay tham gia
    Apr 2009
    Bài viết
    2,309

    Re: Làng nghề truyền thống của người Việt

    Làng nghề dát vàng duy nhất tại Việt Nam

    Vàng mười, bạc thật được dát mỏng như tờ giấy (gọi là đập diệp), cắt thành từng miếng vuông nhỏ 1cm2.


    Nghề dát vàng quỳ là nghề thủ công truyền thống của Việt Nam, đó là chế biến vàng, bạc dát thành lá mỏng bằng phương pháp sản xuất thủ công lâu đời, độc đáo. Đến nay, ở Việt Nam chỉ có làng Kiêu Kỵ (xã Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, Hà Nội) có bề dày hành nghề làm vàng, bạc quỳ hơn 400 năm qua với tổ nghề là danh nhân Nguyễn Quý Trị.
    Công cụ làm vàng quỳ, bạc quỳ gồm búa, đe, kìm, kéo chuyên dụng. Vàng mười, bạc thật được dát mỏng như tờ giấy (gọi là đập diệp), cắt thành từng miếng vuông nhỏ 1cm2.
    Xếp lần lượt từng miếng vàng hay bạc vào tập lá quỳ (lá quỳ là loại giấy đen đặc biệt, chế từ giấy dó bền dai), mỗi miếng vàng ngăn cách nhau bởi một tờ giấy đen. Bọc vải sơn bên ngoài tập giấy đen đã xếp những miếng vàng hay lá bạc, sao cho thật kín.
    Người thợ nện búa vào tập giấy bọc vải sơn đặt trên đe cho tới khi miếng vàng hay bạc ở giữa hai tờ giấy đen thành lá mỏng tang, thổi khẽ là bay. Với bàn tay điêu luyện của người thợ, 1 chỉ vàng có thể đập mỏng thành 980 lá, diện tích hơn 1m2.
    Khi gỡ quỳ, người thợ phải ngồi trong phòng kín, đeo khẩu trang và ngồi trong màn để tránh gió, bởi chỉ vô ý thở mạnh hay có rung động nhỏ cũng có thể làm bay mất những lá vàng mỏng manh.
    Hiện làng nghề Kiêu Kỵ đang cung cấp vàng quỳ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu sang Đài Loan, Hồng Kông và một số nước Đông Nam Á.
    Gia Lâm


  4. #4
    Dạn dày sương gió yuri's Avatar
    Ngay tham gia
    Nov 2011
    Bài viết
    807

    Re: Làng nghề truyền thống của người Việt

    Nghề nắn nồi ở Hòn Đất – Kiên Giang

    Nằm ở trung tâm huyện Hòn Đất có một làng nghề truyền thống, đó là nghề nắn nồi, chuyên tạo ra những sản phẩm bằng đất nung như: cà ràng, nồi, om, ơ, chảo…




    Sản phẩm từ đất


    Xuất hiện vào cuối những năm 20 của thế kỷ XX, vị sư tổ của làng nghề là người Khmer, về sau người Việt đã học được nghề này. Nghề nắn nồi là một thuật ngữ chứa một khái niệm chung chỉ công việc tạo ra các sản phẩm làm từ đất nung. Từ xưa, nghề nắn nồi đối với người dân ở đây chỉ là một nghề phụ được người dân làm sau khi sạ lúa xong. Trước năm 1980, vùng này chỉ làm ruộng một vụ nên sau khi sạ lúa có khoảng thời gian dài rảnh rỗi người dân lại làm nghề… Cũng như bao nơi khác, nguyên liệu dùng để nắn nồi là đất sét, phải có đủ các tiêu chuẩn như dễ đánh bóng, chịu nhiệt cao, tính kết dính cao… mà loại đất này có sẵn trên địa bàn huyện. Để hoàn thành một sản phẩm bằng đất phải qua nhiều công đoạn, công đoạn đầu là nắn hay còn gọi là tạo hình vì tất cả các sản phẩm đều có khuôn (khung) bằng gỗ hoặc bằng đất nung, đến công đoạn vỗ, do đất ướt chứa nhiều nước nên sản phẩm mới đầu thường biến dạng, đòi hỏi người làm phải có kỹ thuật vỗ bằng các thanh tre, sau đó là công đoạn làm bóng, tạo hoa văn để sản phẩm được nhẵn bóng hoàn chỉnh. Nếu được chứng kiến các công đoạn làm mới thấy để có được sản phẩm như ý đòi hỏi người thợ phải có kỹ thuật cao, bàn tay phải uyển chuyển, mềm mại, sáng tạo.
    Sau một tuần lễ, các sản phẩm được phơi khô và có thể đưa vào nung, gọi theo tiếng nhà nghề là “đốt nồi”. Công đoạn đốt nồi khá đơn giản nhưng phải là người có nhiều kinh nghiệm trong nghề, trước kia cũng có nhiều thợ đốt nồi chuyên nghiệp đi đốt thuê nhưng đến nay ai cũng có thể đốt được. Trước khi “nung” người thợ phải sắp mọi sản phẩm lên mặt đất, chèn rơm hoặc cỏ khô vào các sản phẩm, phía trên lớp rơm có một lớp củi tràm. Người ta thường tiến hành đốt vào lúc ban đêm để dễ theo dõi lửa cháy cho đều. Thông thường, các loại sản phẩm “nặng lửa” được đặt ở trung tâm, loại “nhẹ lửa” sắp ở chung quanh để sản phẩm không bị sống hoặc chín quá.



    Trước sự phát triển của kim loại, nhiều vật dụng đã thay thế các sản phẩm bằng đất nung nhưng nghề nắn nồi ở Hòn Đất vẫn tồn tại và được nhiều người biết đến. Những hình ảnh cái nồi đất không phai mờ trong sinh hoạt của con người, càng ngày càng được tái hiện sinh động và chân thực dưới bàn tay tài hoa của những nghệ nhân nắn nồi. Giờ đây nhắc đến nồi đất là người ta nhớ đến một làng nghề nắn nồi ở Hòn Đất, một làng nghề thủ công truyền thống nổi tiếng ở Kiên Giang.
    (Theo KienGiang Online)

  5. #5
    Dạn dày sương gió yuri's Avatar
    Ngay tham gia
    Nov 2011
    Bài viết
    807

    Re: Làng nghề truyền thống của người Việt

    Nghề quạt làng Chàng

    Không chỉ có giá trị nghệ thuật cao mà mỗi chiếc quạt Chàng Sơn còn mang trong mình một ý nghĩa triết lý lịch sử lâu bền.

    Làng Chàng Sơn vốn là một làng nghề truyền thống nổi tiếng ở tỉnh Hà Tây cũ, nay thuộc xã Chàng Sơn, huyện Thạch Thất, Hà Nội. Dân Chàng Sơn cũng nổi tiếng là dân “bách nghệ” và nghề làm quạt cũng chỉ là một trong những nghề của làng.
    Người Chàng Sơn thường tranh thủ làm quạt vào những lúc nông nhàn. Trước Tết Âm lịch là mọi thứ đã được mua về sẵn để tiện khi nào rảnh rỗi thì đem ra làm. Nghề làm quạt tuy không quá gian nan, vất vả nhưng lại đòi hỏi sự cầu kỳ, tỉ mỉ đến thành kiểu cách vô cùng.



    Để có được một chiếc quạt nan như ý, người nghệ nhân phải bỏ rất nhiều công sức để chọn lựa từng ống tre làm nan quạt, từng sợi mây để làm viền và từng thếp giấy để làm cánh quạt. Tre phải dẻo, già có độ tuổi từ 3 năm trở lên, không mối mọt thì nan quạt mới bền, đẹp. Tre cắt thành ống, cạo tinh xanh, lấy dao tách cật ra, gắn sơn ta vào giữa hai thanh tre. Sau đó, các thanh tre được bó chặt lại vài tháng, đến khi khô sơn mới vót thành nan quạt. Sợi mây phải óng, mượt, dài để khi đan không phải nối nhiều đoạn lại với nhau.

    Giấy quạt là loại giấy dó, giấy điệp mua tận Đông Hồ (Bắc Ninh) đem về. Khi vào giấy cho nan quạt phải khéo léo, tỉ mỉ, sao cho giấy không bị nhàu, nếp gấp phẳng, đều, tiện cho công việc vẽ tranh.
    Khi vẽ, điều khó nhất của người họa sỹ là căn chuẩn nếp gấp giữa các nan quạt. Phải tính toán kỹ lưỡng sao cho khi hoàn thành, gấp quạt lại không ảnh hưởng đến tranh, các nếp gấp nằm vào đúng khoảng không, không được cắt người hay cắt vật. Nếu trường hợp bắt buộc phải cắt, thì cái tài của người vẽ chính là tạo mối liên kết sao cho người xem không biết vật đó bị cắt nếu không tận tay sờ vào quạt. Khi các công đoạn làm quạt hoàn thiện, người họa sỹ sẽ phủ lên đó một lớp sơn bóng để giữ cho quạt sáng đẹp, bền lâu.
    Không chỉ có giá trị nghệ thuật cao mà mỗi chiếc quạt Chàng Sơn còn mang trong mình một ý nghĩa triết lý lịch sử lâu bền. Quạt có thể là vật làm duyên trên tay của các cô thiếu nữ, các đức ông trong những dịp đặc biệt, hay những bức tranh nghệ thuật độc đáo treo trên tường để trang trí. Cho dù là treo tường hay cầm tay thì từ chiếc quạt vẫn toát lên một vẻ đẹp mềm mại, quyến rũ từ những họa tiết, hình ảnh giữa chiếc quạt.
    Chiếc quạt càng ấn tượng hơn bởi chất liệu the tơ óng ánh màu hoàng tộc, các vân sáng lung linh tự nhiên hòa quyện với các họa tiết được trạm trổ phía trên. Mỗi hình vẽ trên quạt là tượng trưng cho những danh lam thắng cảnh nổi tiếng của đất nước và cả những tích truyện cổ, tích sử về các vị anh hùng dân tộc…
    Theo các nghệ nhân làm quạt của làng kể lại, chiếc quạt làng Chàng đã được gắn với rất nhiều câu chuyện cổ tích: ngày xưa có "hội đồng tiên quạt", vì lương duyên nên kết quạt để giải tâm phiền: Có câu thơ xưa để giải thích cho xuất xứ nghề làm quạt the ở làng Chàng Sơn.
    "Tiên đồng hội quạt, hội đồng tiên,
    Lương duyên kết quạt, giải tâm phiền.
    Phiền tâm quạt, tay đưa gió
    Gió đưa tay quạt, hội đồng tiên".
    Trong thời buổi hiện đại, quạt máy, điều hòa nhiệt độ ngày càng rẻ và tiện dụng. Quạt giấy Chàng Sơn vẫn có được chỗ đứng trong thị trường trong nước và còn vươn ra cả các thị trường nước ngoài với nhiều loại quạt trang trí nghệ thuật độc đáo. Điều này vừa là sự khẳng định sức sống của một làng nghề truyền thống lâu đời, lại vừa khẳng định sự tồn tại của một nét đẹp mang nhiều mầu sắc lịch sử văn hóa đậm chất nông thôn xưa.
    Hình ảnh những cụ già ngồi phe phẩy chiếc quạt giấy hay quạt nan dưới bóng cây đa râm mát nơi sân đình, bên hiên nhà hay ở quán trà đầu làng… gợi cho ta liên tưởng đến một làng quê thanh bình, yên ả, thấy lòng mát rượi bởi có chiếc quạt thân quen.


    Tre là nguyên liệu để làm nan quạt. Đến làng Chàng Sơn có thể thấy trong làng, ngoài xã đâu cũng có tre, tre ở trên đường làng, tre đang ngâm dưới hồ, tre trong từng gia đình làm nghề truyền thống.



    Gia đình nghệ nhân Nguyễn Thị Cúc đã có 3 đời làm quạt giấy, trong nhà mọi thành vien đều biết là quạt, mỗi người làm một công đoạn khác nhau.



    Những chiếc quạt làm từ chất liệu giấy có in hoa văn tranh thủy mặc.



    Chẻ nan tre làm xương quạt.



    Kiểm tra nan xương quạt sau khi đóng chốt.



    Phất quạt lụa “công đoạn bồi lụa lên quạt” luôn là công đoạn khó và đòi hỏi những người thợ có kỹ năng tay nghề cao.



    Quạt lụa sau khi phất xong được phơi khô bằng cách kẹp trên dây phơi.



    Phơi quạt được phất từ giấy bản dọc theo các con ngõ nhỏ trong làng.



    Cắt sửa viền quạt lụa.



    Trong một gia đình nhỏ, mẹ làm quạt, con học bài.



    Có nhiều gia đình thành lập những xưởng sản xuất lớn, vừa là nơi sản xuất vừa là nơi thu mua lại những sản phẩm từ các hộ gia đình trong làng để đáp ứng nhu cầu của thị trường.



    Quạt lụa chuẩn bị được giao đến tận cơ sở thu mua.






    Vũ Thanh (thực hiện)

  6. #6
    Dạn dày sương gió yuri's Avatar
    Ngay tham gia
    Nov 2011
    Bài viết
    807

    Re: Làng nghề truyền thống của người Việt

    Nghề giấy bản truyền thống của người Dao

    Một trong những nét đặc sắc của người Dao là tín ngưỡng đa thần “vạn vật hữu linh” mang dấu ấn của Nho giáo và Đạo giáo chính thống. Các lễ cấp sắc, lễ cầu an của dân tộc Dao không thể thiếu loại giấy bản.


    Theo ông Nguyễn Đình Bảy, Giám đốc Sở Công Thương Hà Giang, dân tộc Dao nói chung và dân tộc Dao sinh sống ở Hà Giang nói riêng có một nền văn hóa rất phong phú và đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, thể hiện qua nhiều phong tục. Một trong những nét đặc sắc của người Dao là tín ngưỡng đa thần “vạn vật hữu linh” mang dấu ấn của Nho giáo và Đạo giáo chính thống. Các lễ cấp sắc, lễ cầu an của dân tộc Dao không thể thiếu loại giấy bản.



    Sản xuất giấy bản ở thôn Thanh Sơn. (Nguồn: Báo Hà Giang)


    Sở Công Thương Hà Giang đã xác định nghề làm giấy bản của dân tộc Dao ở thôn Thanh Sơn, thị trấn Việt Quang, huyện Bắc Quang là làng nghề truyền thống và đã đưa vào quy hoạch để bảo tồn, phát triển. Thôn Thanh Sơn, thị trấn Việt Quang, huyện Bắc Quang nằm cách trung tâm tỉnh Hà Giang trên 60km. Toàn thôn có 120 hộ với 550 khẩu trong đó 100% số hộ là người đồng bào dân tộc Dao (thuộc nhóm Dao đỏ, hay còn gọi là Dao đại bản); trên 90% số hộ sản xuất giấy bản truyền thống. Bà con người Dao ở đây có tập quán cư trú thành làng, hoạt động kinh tế phát triển nông nghiệp trồng trọt là chủ đạo, hoạt động kinh tế bổ trợ như chăn nuôi, làm nghề thủ công phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Văn hóa mang sắc thái riêng của người Dao nơi đây thể hiện rõ nhất trong trang phục, lễ hội, nghi thức cúng tế gia đình và cộng đồng.
    Theo số liệu thống kê của thôn, năm 2011 tổng thu nhập cả thôn đạt 5.640 triệu đồng; trong đó thu nhập từ nghề làm giấy bản truyền thống đạt 1.246 triệu đồng, chiếm 22% tổng thu nhập. Bình quân thu nhập đầu người đạt gần 11 triệu đồng/người/năm.
    Nghề sản xuất giấy bản của dân tộc Dao ở đây là nghề truyền thống được lưu truyền từ năm 1925 đến nay. Giấy được sản xuất từ nguyên liệu chính là cây vầu non và dây leo tạo keo liên kết, sử dụng vôi để ngâm ủ nguyên liệu, sử dụng nước tự nhiên để tráng. Nguồn nguyên liệu làm giấy bản có sẵn từ thiên nhiên và có khả năng tái tạo hàng năm, không gây ô nhiễm môi trường. Nghề làm giấy diễn ra quanh năm, tranh thủ thời gian nông nhàn.
    Theo các già làng, năm 1920 ông Triệu Dùn Phin, một người con của dân tộc Dao ở thôn Thanh Sơn học được nghề làm giấy và truyền cho con cháu trong dòng họ Triệu. Đến năm 1925, nghề bắt đầu phát triển. Đến nay, nghề làm giấy bản đã xuất hiện ở thôn được 87 năm, duy trì phát triển theo hình thức cha truyền con nối.
    Sản phẩm giấy bản sử dụng chủ yếu phục vụ nhu cầu sinh hoạt tâm linh của nhiều dân tộc. Những năm gần đây, nghề làm giấy của dân tộc Dao thôn Thanh Sơn có xu hướng phát triển tốt. Tuy nhiên, hiện nay nghề sản xuất giấy bản ở đây chưa được hỗ trợ phát triển nghề và quảng bá, mở rộng thị trường tiêu thụ. Công cụ sản xuất do người dân tự chế tạo, làm bằng gỗ, còn thô sơ, chưa giải phóng sức lao động của con người.
    Để bảo tồn và phát triển làng nghề sản xuất giấy bản truyền thống của dân tộc Dao, trên cơ sở đề xuất của Hội đồng khoa học công nghệ huyện Bắc Quang, Sở Khoa học và Công nghệ Hà Giang đã phê duyệt dự án bảo tồn và phát triển nghề sản xuất giấy bản truyền thống của dân tộc Dao ở thôn Thanh Sơn vào chương trình đề tài, dự án khoa học công nghệ cấp huyện năm 2012. Tổng kinh phí dự án là 175 triệu đồng, trong đó vốn sự nghiệp khoa học công nghệ tỉnh hỗ trợ 100 triệu đồng, số còn lại là do các hộ trong thôn đang sản xuất giấy bản đầu tư. Thời gian triển khai thực hiện dự án từ tháng 3/2012 đến tháng 11/2012.
    Mục tiêu của dự án là hỗ trợ nhân dân ứng dụng cơ khí hóa vào sản xuất, phát triển bền vững làng nghề truyền thống; hỗ trợ các hộ sản xuất ứng dụng đưa máy công cụ cải tiến vào sản xuất nhằm tăng năng suất, giải phóng một phần sức lao động của con người; tập huấn, chuyển giao ứng dụng khoa học công nghệ vào hoạt động sản xuất cho các hộ sản xuất; định hướng phát triển bền vững làng nghề truyền thống, gắn với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường.
    Được sự quan tâm giúp đỡ và hỗ trợ kinh phí của chương trình khoa học công nghệ huyện, các hộ tham gia sản xuất giấy bản ở thôn Thanh Sơn đã chuyển hóa một phần từ sản xuất thủ công sang ứng dụng cơ khí hóa cải tiến công cụ trong hoạt động sản xuất. Quy trình chế biến nguyên liệu, phương pháp tráng và bể tráng giấy theo truyền thống được bà con dân tộc Dao giữ nguyên theo phương pháp truyền thống.
    Giấy bản của bà con dân tộc Dao ở thôn Thanh Sơn được tiêu thụ rộng khắp tại 11/11 huyện, thành phố của tỉnh Hà Giang và các tỉnh bạn như Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái...

    Theo ông Hoàng Quang Phùng, Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang, trong thời gian tới, huyện Bắc Quang không chỉ bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống sản xuất giấy bản của dân tộc Dao, huyện sẽ huy động mọi nguồn lực để xây dựng thôn Thanh Sơn trở thành làng văn hóa du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái - điểm đến của mỗi du khách khi đến với Hà Giang./.
    Minh Tâm (TTXVN)

  7. #7
    Dạn dày sương gió yuri's Avatar
    Ngay tham gia
    Nov 2011
    Bài viết
    807

    Re: Làng nghề truyền thống của người Việt

    Đan thuyền nan ở đảo Hà Nam

    Đảo Hà Nam có một làng nghề đan thuyền nan truyền thống khá độc đáo tập trung chủ yếu ở khu Hưng Học, phường Nam Hòa (TX. Quảng Yên - tỉnh Quảng Ninh). Ở đây có những địa danh lịch sử nổi tiếng như: Bãi cọc Bạch Đằng, đền Trần Hưng Đạo, miếu Vua Bà... cùng nhiều lễ hội dân gian và sự tồn tại các làng nghề truyền thống, trong đó có nghề đan thuyền nan.

    Với trên 200 hộ gia đình cùng những tổ hợp nhỏ làm nghề đan, đóng thuyền nan thủ công, mỗi năm làng nghề này đã xuất bán tới hàng nghìn chiếc thuyền lớn nhỏ (trọng tải từ vài tạ đến trên 10 tấn) phục vụ ngư dân địa phương và các tỉnh lân cận đi sông, biển đánh bắt cá, mực... Theo những người thợ làng nghề, đan thuyền nan không quá khó, phức tạp mà chủ yếu đòi hỏi sự tháo vát và cần mẫn. Một gia đình gồm 2 vợ chồng, nếu chuẩn bị nguyên liệu sẵn (tre phơi khô) thì việc thi công một con thuyền nhỏ sẽ mất khoảng thời gian 4-5 ngày. Còn cơ sở lớn hơn như của anh Phạm Văn Kiên cũng cho ra đời trên 20 chiếc thuyền nan mỗi tháng trọng tải từ 10 tấn trở xuống. Trong thời điểm này, việc tiêu thụ thuyền nan ở Nam Hòa có phần giảm sút do yếu tố kinh tế khó khăn, nhưng người dân nơi đây vẫn lạc quan đóng thuyền và gìn giữ nghề truyền thống vốn luôn tồn tại, nuôi sống gia đình họ qua nhiều thế hệ.

    Thuyền nan là phương tiện di chuyển, mưu sinh không thể thiếu của người dân làng chài trên vịnh Hạ Long.


    Đan tre thành những mảng lớn.


    Trước khi “sơn” phủ nhựa đường, người ta phải phết qua lớp phân trâu, bò để khô giữ cốt, đổ nhựa.


    Công đoạn đầu tiên: Chẻ và lột nan tre...


    Người thợ già Lê Đức Đáng (35 năm trong nghề) đang căn chỉnh máy, chân vịt - công đoạn phức tạp nhất của chiếc thuyền.


    Chở thuyền đi bán trên đảo và những người khách tìm đến tận nơi hỏi mua thuyền.


    Trần Ngọc Duy

  8. #8
    Vượt ngàn trùng sóng yenminh0210's Avatar
    Ngay tham gia
    Apr 2009
    Bài viết
    2,309

    Re: Làng nghề truyền thống của người Việt

    Trăm năm vang tiếng tủ thờ Gò Công
    Được coi là một trong những làng nghề tiêu biểu của người dân miền Tây, làng tủ thờ Gò Công ở ấp Ông Non, xã Tân Trung (Gò Công Đông, Tiền Giang) lại có xuất xứ từ miền Trung. Chuyện kể rằng, cách đây hơn một trăm năm, một người thợ mộc quê gốc Thừa Thiên-Huế chuyển vào Gò Công sinh sống, vì nhớ quê nên lấy mấy tấm gỗ quý trong nhà đóng thành chiếc tủ thờ để cúng tổ tiên. Do không có một khuôn mẫu nhất định nên chiếc tủ thờ tuy mang hơi hướng của văn hóa miền Trung nhưng cũng đậm chất phương Nam. Và, chiếc tủ thờ đầu tiên ấy cũng đã khai sinh ra làng tủ thờ danh tiếng đến tận ngày nay.




    Thợ đóng tủ đang ghép những thanh mộng



    Theo thống kê không đầy đủ, cả làng có đến hơn 500 trại đóng tủ, thu hút khoảng gần ba ngàn lao động tham gia.

    Hiện nay, ngoài thị trường là các tỉnh miền Tây Nam bộ hay Sài Gòn, Đồng Nai những chiếc tủ thờ ở đây còn có mặt ở nhiều nơi khác trên khắp đất nước Việt Nam cũng như trên thế giới, nơi có những cộng đồng người Việt sinh sống. Tủ thờ Gò Công mang nhiều nét thẩm mỹ cổ điển của người Việt cũng như những mảnh ghép bằng vỏ trai rất tinh xảo, phù hợp với văn hóa Á Đông nên ở đâu, người ta cũng đều ưa chuộng. Có thể nói, chỉ cần nhìn qua tủ thờ là họ biết xuất xứ của nó ngay vì những chi tiết rất độc đáo, khó lẫn vào đâu được.




    Tủ thờ được lên nước và khảm những mảng màu trai sáng lung linh


    Không như các tác phẩm khác được đóng từ gỗ, càng có chất liệu gỗ quý thì sản phẩm tạo ra sẽ càng có giá. Tủ thờ Gò Công đặc biệt chỉ thích hợp với một loại gỗ rất bình thường là xà cừ. Không hiểu sao, từ những tấm gỗ xà cừ bình thường, qua bàn tay tài hoa của những người thợ mộc, những chiếc tủ thờ được lên nước và khảm những mảng màu trai sáng lung linh huyền bí. Đã nhiều đời nay, ngay cả những thợ tủ cừ khôi nhất làng cũng không giải thích nổi vì sao, tủ thờ chỉ đóng bằng gỗ xà cừ mới đẹp, mới có hồn chứ không phải gỗ trầm hương, gỗ lim, gỗ sến…




    Tủ thờ, nét văn hóa đặc sắc của người dân Việt Nam


    Hầu hết các khâu đóng tủ đều được cơ giới hóa. Nghĩa là, thợ đóng tủ chỉ còn mỗi công đoạn ghép mộng, khắc họa tiết và lên nước sơn cũng như khảm ngọc trai lên mặt tủ mà thôi. Mặc dù ít công đoạn nhưng đấy lại là những khâu quyết định thành bại của chiếc tủ bởi những thợ non tay nghề rất dễ làm mất hồn của chiếc tủ. Theo đó, mặt trước của tủ thường xuyên phải chạm những tích như "nhị thập tứ hiếu”, "bát tiên quá hải” hay phong cảnh non sông như "song long tranh châu” hay "long phụng quần hào”… Còn các trụ bên và trụ mặt phải có hình "long lân qui phụng”, "xuân hạ thu đông” hay "tùng trúc cúc mai”…Đó là đối với những chiếc tủ thông thường, riêng những chiếc tủ đặt theo yêu cầu của khách thì phải tuân thủ nghiêm ngặt theo đơn đặt hàng.



    Hàng trăm năm qua, từ những phiến gỗ vô tri, qua bàn khéo léo tài hoa của những người thợ, hàng ngàn chiếc tủ thờ đã có mặt ở khắp nơi, từ những mái nhà ngói đơn sơ của anh hai lúa miệt vườn cho tới những dinh thự lộng lẫy xa hoa góp phần tạo nên không chỉ một thương hiệu tủ thờ nức tiếng mà còn là nét văn hóa thờ cúng đặc sắc của người dân Việt Nam. Có lẽ, chỉ cần nhìn những chiếc tủ thờ chạm trổ tinh xảo thôi cũng đủ cho chúng ta cảm thấy rưng rưng nhớ về nguồn cội của mình rồi.
    ĐOÀN XÁ

  9. #9
    Vượt ngàn trùng sóng yenminh0210's Avatar
    Ngay tham gia
    Apr 2009
    Bài viết
    2,309

    Re: Làng nghề truyền thống của người Việt

    LÀNG CÓT – LÀNG NGHỀ IN TIỀN ÂM PHỦ

    Làng Cót còn có tên khác là Hạ Yên Quyết hoặc Bạch Liên Hoa, nay thuộc phường Yên Hòa (quận Cầu Giấy) nằm ven sông Tô Lịch, phía Tây thủ đô Hà Nội.
    Được ví như một “ngân hàng âm phủ”, từ những ngày đầu tháng Chạp, dân làng Cót đã “vào cầu” kinh doanh tiền tệ cho người cõi âm như thường niên. Trung bình mỗi ngày cuối năm, làng Cót tiêu thụ không dưới 30 tấn nguyên liệu giấy.
    Từ nhiều năm nay nổi tiếng là trung tâm sản xuất vàng mã lớn nhất nước. Trong làng có đến hàng trăm chủ lớn và hàng ngàn người làm vàng mã. Bởi thế, nhiều người còn ví đây là “tổng kho” đồ đạc cho người âm phủ cũng như “đại nhà máy” in tiền vàng. Nhưng thật ra, giờ đây không khí làm đồ vàng mã ở làng Cót không còn như xưa...
    Cùng với làng Thượng Yên Quyết (nằm phía trên gần cầu Giấy), làng Hạ Yên Quyết được gọi chung là “Kẻ Cót”, là vùng quê có truyền thống hiếu học và khoa bảng, nằm trong “tứ danh hương” (Mỗ, La, Canh, Cót - là các làng xã Hạ Mỗ, Tây Mỗ, Đại Mỗ; La Nội, La Khê, Ỷ La; Vân Canh, Hương Canh; Hạ Yên Quyết, Thượng Yên Quyết) của huyện Từ Liêm xưa, với 10 tiến sĩ và gần 30 hương cống thời Hậu Lê và 9 cử nhân thời Nguyễn.
    Làng Cót ở gần kinh đô xưa, kinh tế khá phát đạt với nhiều nghề thủ công, buôn bán. Làng Cót có một chế độ khuyến học thỏa đáng, từ xưa làng dành ra 3 mẫu ruộng "độc thư điền" để biếu cho người đỗ tiến sĩ trở lên; ngày ông nghè về vinh quy, cả làng đem cờ lọng đón rước và mừng 100 quan. Ngoài ra còn thưởng ruộng cho cả người đỗ cử nhân, tú tài.
    Tiền âm phủ làng Cót có mặt ở khắp các tỉnh miền Bắc, vào đến cả Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị. Ở Hà Nội, phố Hàng Mã là “sàn giao dịch” của các loại “tiền tệ” “made by” làng Cót này.


    Việc in tiền ở làng Cót cũng rất thức thời. Trần sao âm vậy, trần giàu sang bao nhiêu thì ở “bên kia”, âm phú quý như vậy. Xu, bạc, vàng lá, USD với các mệnh giá khác nhau đều được các “công xưởng” tại đây sản xuất. Tiền âm Tết Mậu Tý khi bán ra đã vượt giá so với năm cũ. “Mới đầu tháng, mỗi xấp (gồm 100 tờ, riêng tiền xu chỉ có 10 tờ) được bán với giá 1.000 đồng, nay đã là 1.500 đồng”, bà Những - một người làm hàng mã lâu năm cho biết.
    Gần đến ngày lễ ông Táo (23/12 âm lịch), dân làng Cót đang trong cảnh “tiền tấp như núi”. Sau khi đưa đi in xong, họ phải đem về nhà để cắt, tạo thành xấp rồi mới bán buôn cho các nhà buôn hàng mã các tỉnh.
    Mặt hàng tiền âm của làng Cót đặc biệt đầy đủ, phong phú về chủng loại, từ lá bạc, lá vàng, xu xanh, xu vàng... tới đồng tiền Việt Nam, tiền đô Mỹ. Thế giới bên kia cũng phân biệt kẻ sang người hèn, nhà giàu thì đốt “tiền chất lượng cao” giấy trắng, dày, in hai mặt sắc nét; bần hàn thì dùng loại tiền cũ mỏng tang, nhòe nhoẹt.
    Phân công lao động trong làng cũng đạt tới mức chuyên môn hóa cao, có nhà chỉ làm tiền đô, có nhà chỉ chuyên xu vàng, xu xanh... Mỗi gia đình luôn thường trực 5-7 lao động làm thuê mà vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường. Tiền âm làng Cót cung cấp cho hầu khắp các tỉnh từ Nghệ An, Thanh Hóa trở ra Bắc với lượng tiêu thụ khổng lồ.
    Tốc độ đô thị hoá chóng mặt đã khiến cho những người làm nghề thủ công này co cụm lại, chỉ còn lác đác vài hộ.
    Trông bên ngoài, không khí làng Cót không như phố Hàng Mã xanh, đỏ và nhộn nhịp. Nhưng từng người dân làng Cót vẫn đang ngày ngày hối hả “làm tiền”, phục vụ nhu cầu tâm linh của phần lớn người dân trong ngày lễ Tết.
    Ngày này, làng Cót là một trong các trung tâm cung cấp vàng mã cho Hà nội và một số tỉnh lân cận. Làng còn có món bánh cuốn khá độc đáo.

    TH

  10. #10
    Dạn dày sương gió yuri's Avatar
    Ngay tham gia
    Nov 2011
    Bài viết
    807

    Re: Làng nghề truyền thống của người Việt

    Độc đáo nghề làm khám ở Phú Quý – Bình Thuận

    Ở Phú Quý, mười nhà thì chín nhà có khám bởi người dân tin rằng: bên trong mỗi chiếc khám thờ có những điều thiêng liêng, giúp họ đánh bắt được nhiều hải sản, qua được sóng to, gió lớn trên biển…

    Khám thờ

    Chúng ta dễ bắt gặp khám thờ trong những ngôi nhà cổ xưa có thiết kế dạng 3 gian 2 chái ở Phú Quý. Khám được làm bằng gỗ, một số ít làm bằng xi măng. Một khám thờ ở Phú Quý đầy đủ thường được gọi là khám thờ kép. Ở phía mặt trước và trên cùng gọi là tấm mày. Mày được khắc 2 con rồng đối xứng nhau. Bên dưới mày là chân quỳ, chạm khắc hoa văn tượng trưng cho tứ quý (tươi đẹp bốn mùa) và dễ thấy nhất là 2 trụ long đăng ở hai bên, tượng trưng cho 2 cột nhà. Từ trên xuống dưới của long đăng, chạm trổ hình rồng uốn lượn ôm lấy thân trụ, tiếp theo là các khung tà, bao gồm khung tà trước, khung tà giữa và khung tà sau. Phần ngoài cùng hai bên gọi là cánh quạt, người ta chạm trổ các hình ảnh, hoa văn của 4 con vật: “Long, lân, quy, phụng”… ngoài ra các góc cạnh của khám còn được trang trí, chạm trổ cũng rất công phu.

    “Tổ đường” hoặc “phước đường”

    Khám thờ có 2 tầng, tầng trên thờ các vị thần phù hộ cho gia đình bình an, tầng dưới thờ ông bà, tổ tiên. Điều rất quan trọng ở phần dưới, người ta khắc 2 chữ Hán cỡ lớn để khi nhìn vào phân biệt nhà trưởng nam hay thứ nam. Nhà trưởng nam thường khắc 2 chữ “tổ đường”, còn nếu nhà thứ nam thì có chữ “phước đường”.

    Nghệ nhân làm khám thờ




    Trên đảo Phú Quý có 3 cơ sở làm khám thờ. Người làm lâu năm, tay nghề thuộc loại “tên tuổi” là ông Trần Thiện Nghiệp (47 tuổi), trú tại thôn Đông Hải, xã Long Hải. Ông cho biết: “Tôi là đời thứ 3 kế thừa nghề này của dòng họ. Nhờ nghề mà có thu nhập, con cái được học hành đến nơi đến chốn”.
    Người làm nghề phải sáng tạo, tỉ mỉ, ngoài việc biết chạm trổ các hoa văn, đòi hỏi phải biết phối màu sơn... Hiện nay để có được một chiếc khám thờ hoành tráng trong gia đình, người có nhu cầu phải bỏ ra khoảng 20 triệu đồng. “Mọi hoa văn, hình vẽ rồng, phụng trên mặt khám không có khuôn mẫu sẵn, đòi hỏi người làm nghề phải nhiều kinh nghiệm mới thực hiện được”.
    Khám thờ của người Phú Quý là nét đẹp văn hóa của một vùng đảo. Người làm khám thờ cũng là một nghệ nhân điêu khắc./.
    (Theo BinhThuanOnline)

+ Trả lời Chủ đề
Trang 1 của 6 1 2 3 ... CuốiCuối
Thông tin về chủ đề này Thông tin về chủ đề này
Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

     

Các Chủ đề tương tự

  1. Trả lời: 22
    Bài viết cuối: 08-06-2013, 10:22 AM
  2. Múa rối nước - nghệ thuật truyền thống độc đáo
    Bởi yuri trong diễn đàn Nghệ thuật truyền thống
    Trả lời: 0
    Bài viết cuối: 18-05-2012, 05:27 PM
  3. Lễ hội truyền thống Làng Giang Cao
    Bởi yuri trong diễn đàn Lễ hội
    Trả lời: 1
    Bài viết cuối: 08-12-2011, 09:13 AM
  4. Trả lời: 0
    Bài viết cuối: 30-11-2011, 12:40 PM
Quyền viết bài
  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình