+ Trả lời Chủ đề

Chủ đề: Đọc truyện tiếng Nhật

Trang 1 của 2 1 2 CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 15
  1. #1
    Administrator mtd-group đã tắt Mức độ Uy tín mtd-group's Avatar
    Ngay tham gia
    Oct 2008
    Bài viết
    342
    Rep Power
    10


    hot boy





    Yoochun đã viết


    aliba và 40 tên cướp


    むかしむかし、とっても美しいけれど、心のみにくいおきさきがいました。 おきさきは魔法のカガミを持っていて、いつも魔法のカガミにたずねます。「カガミよカガミよ、この世で一番美しいのはだれ?」 おきさきは、カガミがいつものように、

    「あなたが一番美しいです」
    、答えるのを待ちました。

     しかしカガミは、「あなたの娘、白雪姫(
    しらゆきひめ)です、答えたのです。 おきさきは、白雪姫の2度目のお母さんです。 おきさきは激しく腹を立て、白雪姫を猟師(りょうし)殺させようとしました。 でも、心のやさしい猟師は、白雪姫をそっと森の中にかくして、おきさきには白雪姫を殺したとうそをついたのです。

     白雪姫は、森に住む七人の
    小人たちと暮らすことになりました。

     そして小人たちが山に働きに入っている間、そうじやせんたくや針仕事をしたり、ごはんを作ったりして、毎日を楽しくすごしました。

    「白雪姫、わたしたちが仕事にいっている間、だれも家に入れちゃいけないよ。あのこわいおきさきに、ここが知られてしまうからね」
    、いつも小人たちはいうのでした。

     ところがある日、

    「カガミよカガミよ、この世で一番美しいのはだれ?」
    、おきさきがカガミに聞くと、

    「山をこえたその向こう、七人の小人の家にいる白雪姫です」
    、答えたのです。

    「なんですって!! あの猟師、うらぎったね! よし、こうなれば」

     自分で白雪姫を殺そうと考えたおきさきは、物売りのおばあさんに化けると、毒リンゴを手に七つの山をこえて、小人の家に行きました。

     そして、まどをたたいて言いました。

    「美しい娘さんに、おくりものだよ」

    「まあ、何てきれいなリンゴ。おばあさん、ありがとう」


     けれど、そのリンゴを一口かじるなり白雪姫はバタリとたおれて、二度と目をひらきませんでした。 白雪姫が死んだことを知った小人たちは悲しみ、せめて美しい白雪姫がいつでも見られるようにと、ガラスのひつぎの中に白雪姫を寝かせて、森の中におきました。 そしてある日、1人の王子が森で、白雪姫のひつぎを見つけたのです。「何てきれいな姫なんだ。まるで眠っているようだ」 王子は思わず、ひつぎの中の白雪姫にキスをしました。 するとキスしたはずみで、毒リンゴのかけらが白雪姫ののどから飛び出したのです。 目を開けた白雪姫は、「わたしは、どこにいるのかしら?」、王子にたずねました。「ずっと、わたしといっしょにいるのですよ。姫」 王子と結婚した白雪姫は、ずっと幸せに暮らしました




  2. #2
    Mới nở PhuongMy is on a distinguished road PhuongMy's Avatar
    Ngay tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    4
    Rep Power
    0

    Bài đọc hiểu đầu tiên của CT4


    Sư tử và Chó con


    Các bạn có thể download file về để in















































































































































































































































































































































































































































































    これは、もう、かなり前のことですが、ロンドンに、動物のサーカスがやってきたときの話です。



    chuyện này, tuy là chuyện đã khá lâu rồi, nhưng là chuyện xảy ra trong rạp xiếc thú ở Luân đôn.



    このサーカスは、たいへん評判(ひょうばん)が良かったので、毎日、大勢の見物人が()()ました。



    rạp xiếc này, vì được tiếng tốt, nên mỗi ngày rất đông người xem đổ xô đến



    もろん、見たい者は、入場料(にゅうじょうりょう)を払いさえすれば、よいのですが、しかし、そのころは、お金を出さなくっても、――例えば、いわしとか、馬肉とか、動物のえさになるようなものを持っていけば、それでも、見ることができたのです。



    dĩ nhiên, ai muốn xem thì chỉ cần trả tiền vé là được, nhưng lúc bấy giờ, không trả tiền cũng được – chẳng hạn như, nếu mang đến cá mòi, thịt ngựa hay những thứ có thể làm mồi cho thú, cũng có thể xem.



    ある男が、道端(みちばた)に遊んでいた子犬を拾い上げ、それをサーカスに持って行きました。



    một người đàn ông nọ, nhặt chú cún con đang chơi bên vệ đường, rồi mang đến rạp xiếc



    その男が入場を許されたことは言うまでもありません。



    dĩ nhiên là người đó được phép vào rạp



    舞台では、ちょうどライオンの芸が終わったところです。



    trên sân khấu, đúng lúc vừa xong màn trình diễn của sư tử



    (かわ)のジャンパー、革の長靴に身を(かた)めた猛獣(もうじゅう)使いは、しなったむちを横にして、軽く両手で押さえながら,気取(きど)った姿勢(しせい)でお客にお礼の言葉を()べていました。



    người huấn luyện thú mặc áo khoác da, giầy ống da đang chỉnh đốn trang phục, đặt ngang cây roi bẻ cong, vừa đè bằng hai tay nhẹ nhàng, vừa nói lời chào khách với dáng vẻ trịnh trọng



    そこへ、小屋の者が、子犬を抱えて、舞台に上がってきました。



    người trong rạp, bế chó con, leo lên sân khấu đến chỗ đó



    さっきの子犬です。



    là con chó con lúc nãy



    子犬は、何も知らないので,大人しくしています。



    vì chó con không biết gì, nên rất ngoan



    小屋の者は、その子犬を猛獣使いに渡しながら、何か(ささや)きました。



    người trong rạp vừa trao chú chó con đó cho người huấn luyện thú, vừa thì thầm gì đó



    猛獣使いは、かれのむちをヒュッと鳴らしました。



    người huấn luyện thú bật roi của mình “vút”



    「ええ、退場(たいじょう)しようとしておりましたところへ、ただいま、これなる動物が運ばれてまいりました。」



    “à này, tôi vừa định lui ra, thì đúng lúc, được mang đến cho con vật này”



    かれは、子犬の首を指の先で()まんで、高く()るし上げました。



    ông ta dùng đầu ngón tay xách cổ chó con đưa lủng lẳng lên cao



    子犬は急に吊るし上げられたので、「ヒー」と、悲しそうな声を立てました。



    vì con chó con bất ngờ bị đưa lên cao, nên phát ra tiếng “hii” như đau khổ



    「静かにするんだ。」猛獣使いは、犬の頭を手で押さえました。



    “yên nào.” người huấn luyện thú lấy tay đè đầu chó



    「この子犬は、お客様がお持ちくださったものです。



    “con chó con này là của vị khách mang đến cho tôi”



    たぶん、ご見物のみな様のお(なぐさ)みに(そな)えてくれ、と言うお考えのように思われます。



    có lẽ, dường như nghĩ là mang thêm niềm vui cho quý vị thưởng lãm



    ところで、今日は、ライオンが大層(たいそう)上手に芸をいたしましたから、もし、皆様のお許しが得られますならば、ご褒美(ほうび)として、これをライオンに投げてやりたいとぞんじますが、いかがなものでございましょう。」



    nhân tiện, vì hôm nay sư tử đã biểu diễn rất giỏi, nếu được quý vị cho phép, tôi định ném con này cho sư tử, coi như là phần thưởng, có được không vậy?



    猛獣使いがこう言うと、(さか)んな拍手(はくしゅ)が起こりました。



    người huấn luyện thú vừa nói vậy, thì tràng vỗ tay nổi lên rần rần



    中には、口笛(くちぶえ)を鳴らす者もありました。



    trong đó, cũng có cả tiếng huýt sáo



    「お許しをいただきまして、ありがとうぞんじます。



    “xin cảm ơn vì đã cho phép tôi



    それでは、さっそく、ライオンに進上(しんじょう)することにいたします。」



    vậy thì, tôi sẽ tặng cho sư tử ngay



    子犬は、首のところを捕まえられているので、苦しそうに足をぶら下げていました。



    chó con vì bị tóm ở cổ, chân treo lủng lẳng vẻ khổ sở



    もう、「ヒー」とも、「キャン」とも鳴きません。



    không kêu được cả “hii” hay “gâu”



    猛獣使いは、子犬を下げたまま、舞台の中央(ちゅうおう)すえてある、大きなおりの前に行きました。



    người huấn luyện thú cầm chó con y như vậy hạ xuống, đi đến trước chuồng to, đặt giữa sân khấu.



    そして、自分の子供にでも話すような口調(くちょう)で、ライオンに話しかけました。



    rồi bắt đầu nói với sư tử bằng giọng điệu như nói với con mình



    「ピーターや。今日は、たいへんよく働いてくれたね。



    “hôm nay, con đã làm việc cực khổ cho ta”



    お客様から、ご褒美(ほうび)が出ましたよ。これ、こんないいご褒美だ。



    khách tặng con phần thưởng, phần thưởng tốt thế này



    生きているんだから特別おいしいぜ。



    vì đang sống nên ngon lắm đó



    今、投げてやるからね。けっして遠慮(えんりょ)することはないよ。



    bây giờ vì ta sẽ ném cho con, đừng có ngại ngùng gì nhé



    お客さんの前だってかまやしない



    dẫu trước mặt khách, cũng không sao đâu



    むしゃむしゃって、やっちまうんだよ。お客さんはね、お前さんの食事の仕方が見たいっておっしゃるんだ。いいかい。」



    ngốn ngấu ăn cho hết nhé. Khách nói là muốn xem cách con ăn đó, được không?



    かれは、そう言いながら、おりの戸を少し開いて、生きた犬をポーンと中に放り込みました。



    ông ta, vừa nói thế, vừa mở hé cửa chuồng, ném “bộp” con chó sống vào bên trong



    そのしゅうかん、今までざわめいていた見物席が、急に、しいんとなってしまいました。



    gây phút ấy, cho đến tận bây giờ, ghế khán giả vẫn đang huyên náo, đột nhiên, trở nên yên lặng như tờ



    子犬をライオンに食べさせる!そこには、なんともいえないスリルがあります。



    “con chó bị sư tử ăn”, rùng rợn không tả được



    見物人は、さっきは、わけもなく喜びましたが、しかし、現実(げんじつ)、生き物が投げ込まれたのを見ると、さすがにどきんとしたようです。



    người xem vừa lúc nãy, vui thật vui, nhưng trên thực tế, vừa nhìn thấy con thú còn sống bị ném vào thì, quả thực là, bị sốc.



    投げ込まれた子犬は、死んだようになっていました。



    con chó con bị ném vào, như đã chết rồi



    小さいからだを、いっそう、小さくして、――尻尾まで丸めてしまって、おりの隅に、ゴムまりのように、転がっていました。



    đã nhỏ, lại càng thu nhỏ thêm, cuộn tròn đến tận đuôi, lăn như quả bóng nhựa vào góc chuồng



    ライオンは芸がすんでから,両足を投げ出して、寝そべっていましたが、子犬が投げ込まれたときにも、それほど特別な表情(ひょうじょう)はしませんでした。



    con sư tử sau khi biểu diễn xong, duỗi hai chân, nằm xoài, cả lúc con chó con bị ném vào, cũng không biểu lộ đặc biệt gì



    ただ、首を少しばかり上げて、ちらっと、小さい動物の方に、目をやっただけでした。



    chỉ hơi ngẩng đầu, nhìn về phía con thú nhỏ



    さすがに、百(じゅう)の王と言われるだけあって、ほかの動物のように、がつがつしたところがありません



    đúng như, được gọi là vua của muôn loài, nó không ngấu nghiến tham lam như những con thú khác



    もっとも、猛獣と言うものは、自分の()らえた動物が、もう逃げ出せないことを知ると、半(ごろ)しのままにしておいて、すぐには、食べてしまわない。



    thế nhưng, chắc là thứ gọi là dã thú, biết là con thú mình bắt được không thể chạy thoát nữa, nên cứ để nguyên sống dở chết dở, không ăn ngay.



    しばらくの間は、(たお)した動物の前で、自分の勝利感を満足させ、その上で、ゆっくり楽しみながら食べるものだということもあるので、この場合も、ライオンは、そういった喜びに(ひた)っているのかもしれません。



    hơn thế nữa, vì là loài, sẽ ăn vừa từ từ hưởng thụ, làm thỏa mãn cảm giác chiến thắng trước con thú bị mình đánh bại trong một chốc, nên chắc con sư tử trong trường hợp này, cũng sẽ để thấm dần niềm vui như đã nói.



    ライオンが、ガッと飛び掛ってしまえば、もう、おしまいです。



    nếu con sư tử mà nhảy chồm lên thì đã tiêu đời rồi



    しかし、起き上がりもしなければ、飛び出しもしない、ちょっと首をもたげただけでは、じいっとしたままでいる、このライオンの態度は、なんともいえず、不気味(ぶきみ)なものでした。



    thế nhưng, nó chẳng hề nhổm dậy, cũng chẳng hề đi ra, chỉ hơi ngẩng cổ, rồi nằm yên như thế, thái độ của con sư tử này, kỳ lạ khôn tả



    いま、やられるか!



    bây giờ nó bị ăn không nhỉ



    いま、かみ殺されるか!



    bây giờ, có bị cắn chết không nhỉ



    見物人は手を(にぎ)()めたまま、見つめていました。



    người xem, cứ nắm chặt tay lại, nhìn chằm chằm



    握り締めていたこぶしが、かすかに震えています。



    nắm chặt tay khẽ run



    やるもんなら、早くやっちまってくれ!



    nếu ăn thì ăn lẹ cho tụi tao coi



    見物人は、もう見ているのがたまらなくなりました。



    người xem nhìn chịu không nỗi



    舞台の方から、すうっと、冷たい風が吹いてきました。



    từ phía sân khấu, gió lạnh thổi xộc đến



    そのとき、ライオンが、ぬっと立ち上がりました。



    lúc đó, con sử tử đột ngột đứng dậy



    見物人は、また、急に、ぎくっとしました。



    người xem lại giật mình hết hồn



    立ち上がったライオンは、おりの隅に(ちぢ)こまっている子犬のそばに行きました。



    con sư tử đứng lên rồi đi đến cạnh con chó con đang co người trong góc chuồng



    そして、鼻を近づけて、臭いをかぎ始めました。



    rồi đưa mũi đến gần, bắt đầu ngửi



    臭いをかいだ後、ライオンは、ぱくりとやるのだろうか。



    chắc là sau khi ngửi xong, con sư tử sẽ đớp ăn nhỉ



    ヒーッという、子犬悲鳴(ひめい)が、今にも聞こえてくるような、気配(けはい)です。



    như có thể nghe được tiếng rú của chó con “hii” là dấu hiệu



    見物人は、かたずを飲みました



    người xem nín thở



    しかし、ライオンは飛び掛りません。



    thế nhưng con sư tử chẳng nhảy chồm lên



    鼻の先で、小さい動物をなでているように見えます。



    chỉ thấy giống như nó đang lấy đầu mũi vuốt con thú nhỏ



    いつまで、臭いをかいでいるのでしょう。



    chẳng biết nó ngửi đến khi nào đây



    そのうちに、子犬の縮こめていた尻尾が、少しずつ動き出しましたなど思っていると、今度は,子犬が、急に、くるりと、仰向けになりました。



    trong lúc đó, khi nghĩ chuyện như đuôi con chó đang co rúm hơi động đậychút một, thì lần này, chó con, lập tức, bị lật ngửa ra



    仰向けになって,両足を上げ、尻尾を前よりも大きく振りました。



    bị ngửa người, hai chân đưa lên, đuôi vẫy mạnh hơn trước



    恐ろしい動物が傍にいるのに、これはまた、なんということでしょう。



    tuy ở cạnh con thú khủng khiếp, mà lại thế này, là chuyện thế nào nhỉ



    それとも、これが、「降参しました」という表情なのでしょうか。



    hay là đây là biểu hiện của “tôi chịu thua rồi” nhỉ



    ライオンは、仰向けになっている子犬を、しばらく見ていましたが、やがて、前足で、小さい動物の体に、軽く触りました。



    sư tử, nhìn con chó bị lật ngửa một chút, rồi dùng chân trước sờ nhè nhẹ thân con thú nhỏ



    子犬は、バネ仕掛けの動物の玩具のように、また、くるりと起き上がりました。



    chó con lại bật phắc dậy như món đồ chơi con thú vặn dây thiều



    起き上がって、ちんちんでもするように、ライオンの前に、後足で立ち上がりました。



    bật dậy rồi, nó đứng lên bằng chân sau trước mặt sư tử giống như đi tè



    それは、実に、こっけいな形でした。



    đó thực là tư thế khôi hài



    こっけいと同時に、哀れむべき姿でもありました。



    đồng thời với khôi hài, cũng là một tư thế rất tội nghiệp



    しかし、誰、一人、笑う者もありません。



    thế nhưng, chẳng hề người nào cười cả



    あまりに緊張した場面だったので、この小さい動物の可笑しな動作が、可笑しいというよりは、いじらしく見えたからです。



    vì là bối cảnh rất hồi hộp, nên thấy động tác kỳ quặc của con thú nhỏ này tội nghiệp hơn là buồn cười



    ライオンは、(ゆる)く首を振りながら、子犬の動作を眺めていました。



    sư tử vừa thoang thả lắc đầu, vừa ngắm nhìn động tác của chó con



    けれども、それ以上、別に同士ようとする様子もありませんでした。



    thế nhưng, hơn nữa, cũng không hề có tình hình đặc biệt muốn kết bạn gì



    緊張が一人でに緩み、見物席の中から、ため息に似たものが流れました。



    sự hồi hộp giảm bớt, từ trong ghế khán giả, có tiếng giống như thở dài



    それは、惨たらしい場面を見ないでよかったと、いう気持ちもありましたろうし、それが見られないので、がっかりした、という意味も、含まれていたかもしれません。



    đó không biết hàm ý tâm trạng dễ chịu do không phải nhìn thấy cảnh thảm thiết, hay thất vọng vì không thể thấy được cảnh đó



    しかし、困ったのは、猛獣使いです。



    thế nhưng, kẹt nhất là huấn luyện thú



    これでは、引っ込みがつきません。



    cả chuyện này cũng không nản chí



    「さあ、遠慮なくむしゃむしゃやるんだよ」なんて言っておいたのに、ライオンは、一番肝心(かんじん)なことをやってくれなかったからです。



    tuy đã nói với sư tử là “nào, hãy ăn đừng ngại nhé” này kia, thế mà sư tử lại không làm chuyện quan trọng nhất cho mình



    もちろん、かれは、猛獣使いとして、おりの外から、ずいぶん、けしかけたのですが、今日は、どうしたのか、ライオンが、かれの言うとおりに動かなかったのです。



    dĩ nhiên, anh ta, với tư cách là người huấn luyện thú, từ ngoài chuồng, đã xúi giục rồi, thế mà hôm nay, không biết có chuyện gì, sư tử lại không làm theo lời anh ta nói



    猛獣使いは合図をして、楽屋から、馬肉の大きな塊を持ってこさせました。



    người huấn luyện thú ra hiệu, bảo hậu trường, mang ra một tảng thịt ngựa to



    かれは、それを与えることによって、ライオンに、ライオンの本性をよみがえらせよう、と考えたのです。



    anh ta định khơi dậy bản tính của sư tử bằng việc cho sư tử cái này



    血の(したた)る肉をやったら、それに味をしめて、ライオンは、きっと子犬に飛び掛るにちがいない。



    nếu cho thịt đẫm máu, tẩm thêm hương vị cho nó, sư tử chắc chắn sẽ nhảy chồm vào chó con



    そうすれば、お客さんにも満足が与えられるし、このよぎょうの、締めくくりも、つけられると思ったのです。



    anh ta nghĩ, làm thế, vừa làm khách hài lòng, nhờ vào sự hưng phấn này mà kết thúc cuộc biểu diễn



    商売熱心な猛獣使いは、先ず、鉄の講師の間から、(むち)を入れて、ライオンをじらし、ライオンの野生を、できるだけ、()り立てるように努めました。



    người dạy thú nhiệt tình trong kinh doanh, đầu tiên, cho roi vào giữa các song sắt, chọc sư tử, cố gắng kích thích thú tính của sư tử



    そうして、ライオンの気をいらだたせておいてから、かれは、真っ赤な馬肉を、おりの中に放り込みました。



    rồi thì sau khi chọc giận sư tử rồi, anh ta quăng vào trong chuồng miếng thịt đỏ tươi



    ライオンは、すぐに馬肉に飛びつきました。



    sư tử lập tức vồ ngay miếng thịt ngựa



    それは(ほね)付きの、かなり大きな肉でした。



    đó là miếng thịt khá lớn có dính xương



    が、ライオンは、それを先ず、二つに引きちぎりました。



    nhưng trước tiên, sư tử xé nó thành hai



    そして、骨の付いていないほうの肉を、さらに小さく噛み切って、子犬の前へ、ポーンと放りました。



    và xé nhỏ hơn miếng thịt không dính xương, quăng cái bốp về phía chó con



    子犬はびっくりして、ライオンの方を見ました。



    chó con giậ tmình, mình về phía sư tử



    しかし、ライオンは、子犬には,かまわず、骨付きの肉に、かぶりつきました。



    nhưng, sư tử không để ý đến chó con, ngoạm lấy cục thịt có xương



    ライオンが食べ出したのを見ると、子犬も尻尾を振りながら、自分に与えられた肉を食べ始めました。



    khi thấy sư tử bắt đầu ăn, chó con cũng vừa vẫy đuôi, vừa bắt đầu ăn miếng thịt được cho cho mình



    食べながら、子犬はちょこんと頭を上げては、ライオンの方を覗き込みます。



    vừa ăn, chó con lại vừa ngẩng đầu đàng hoàng rướn nhìn về phía sư tử



    覗いて見ては、また、急ぎでがつがつと肉を食べます。



    liếc nhìn xong lại vội vã ăn thịt ngon lành



    ライオンの方もガリッと骨を噛み砕きながら、時々横目で子犬を見ています。



    con sư tử cũng vừa nhai nát xương “rôm rốp”, thỉnh thoảng liếc ngang nhìn chó con



    それは、まるで、親子のようでした。



    giống hệt như cha con



    猛獣と家畜(かちく)の子供、まったく違った二ひきの動物が、同じおりの中で、一片(いっぺん)の肉を分け合って、食べている。



    mãnh thú và con non của gia súc, tuy là hai con thú hoàn toàn khác biệt nhau, nhưng lại chia nhau một miếng thịt ăn trong cùng một chuồng



    これは、いったい、なんとしたことでしょう。



    thế là thế nào?



    猛獣使いはあっけに取られました。



    người dạy thú ngạc nhiên sững sờ



    これでは、せっかくの猛獣が猛獣になりません。



    uổng công là mãnh thú mà chả mãnh thú tí nào



    かれは、なんとかして、ライオンの、ものすごいところを見物に見せたいと焦りました。



    anh ta đã nóng vội, bằng cách nào đó, muốn cho mọi người thấy cảnh hung hăng của sư tử



    突然、見物席の片隅から、拍手が起こりました。



    đột nhiên, từ bên góc ghế khán giả, tiếng vỗ tay vang lên



    猛獣使いは、面くらいました。



    người dạy thú lúng túng



    何の拍手だか、分からなかったからです。



    vì không biết vỗ tay chuyện gì



    ところが、その拍手がきっかけとなって、あちかからも、こちかからも拍手が起こり、場内は、嵐のような拍手で包まれました。



    thế nhưng, tiếng vỗ tay đó như khơi mào, khắp nơi tiếng vỗ tay vang dậy, hội trường cuộn trong tiếng vỗy tay như sấm dậy



    それを聞いたとき、猛獣使いは、はっと胸を捕まれました。



    lúc nghe thế, người dạy thú giật mình ôm ngực



    かれは、すぐ身じまいを取り直し、丁寧にお辞儀(じぎ)をしながら、見物に言いました。



    anh ta lập tức chỉnh lại tư thế, vừa cúi chào đĩnh đạc, vừa nói với người xem



    「皆さん。ありがとうございます。ありがとうございます。皆さんの力強い拍手は、わたくしの心の(そこ)まで響いてきます。



    cám ơn mọi người, cám ơn, tiếng vỗ tay mạnh mẽ của mọi người, làm tôi xúc động đến tận đáy lòng



    わたくしが、皆さんを喜ばせようとしたことは、ものの見事に失敗しました。



    chuyện tôi định làm cho mọi người vui, đã thất bại thảm hại



    しかし、わたくしの夢想もしなかったことが、皆さんを喜ばせています。



    thế nhưng, điều mà trong mơ tôi cũng không dám nghĩ là làm mọi người vui.



    わたくしは、こんな嬉しいことはありません。



    Tôi không gì vui sướng hơn






  3. #3
    Mới nở PhuongMy is on a distinguished road PhuongMy's Avatar
    Ngay tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    4
    Rep Power
    0

    Vui lòng sửa bài xong thì báo cho mình biết với nhé


  4. #4
    Vượt ngàn trùng sóng obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan's Avatar
    Ngay tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    3,442
    Rep Power
    10
































































































































































































































































































































































































































































































































































    蛇の王子の贈り物



    quà tặng của hoàng tử rắn



    羊飼いと蛇



    chàng chăn cừu và con rắn



    ある所に、たいそう働き者の羊飼いの若者がいました。



    ở một nơi nọ, có một chàng thanh niên chăn cừu rất chăm chỉ



    ある日、羊の群れを追っていくと、森の(はず)から何か,泣くような声が聞こえてきました。



    một ngày nọ, khi đang đi theo bầy cừu thì nghe thấy âm thanh như khóc từ đâu đó từ bìa rừng



    若者は不思議に思って(そば)に行くと、そこは火がめらめらと()えていました。



    chàng thanh niên cảm thấy lạ, nên đến bên gần thì, ở đó lửa đang cháy bừng bừng



    そして、火の中で一匹の蛇は(くる)しんでいました。



    và trong lửa một con rắn đang khốn khổ



    「羊飼いさん、どうか私を(たす)けてください。」



    “anh chăn cừu ơi, xin hãy cứu tôi với”



    蛇は、燃え上がる(ほのお)の煙に()かれ、泣く声もかすれていました。



    con rắn, bị khói của ngọn lửa cháy rực bao vây, tiếng khóc cũng khàn đi



    若者が長い(つえ)差し出してやると、蛇はそれを(つた)って(ほのお)から逃げ出すことができました。



    chàng thanh niên vừa đưa cây gậy dài cho thì con rắn men theo đó, có thể trốn thoát khỏi ngọn lửa



    ところが、蛇は、そのまま若者の腕にはい上がりするすると若者の首に()きついてしまいました。



    thế nhưng, con rắn cứ thế bò lên ngực chàng thanh niên, từ từ cuộn chặt luôn cổ của chàng thanh niên



    「何てことするんだ。助けてやった恩人(おんじん)の首を、()めるつもりか。」



    làm chuyện quái gì vậy? mày định siết cổ ân nhân đã cứu mày à?



    羊飼いの若者は、()(さお)になってもがきました。



    chàng chăn cừu trở nên xanh tái, vùng vẫy



    羊飼いさん、怖がらないでください。



    “anh chăn cừu, xin đừng sợ”



    私は、あなたにお礼をしたいのです。



    tôi vì muốn đền ơn anh đó mà



    このまま、蛇の王様のお城まで、私を連れていってください。



    xin anh hãy cứ để nguyên thế này dẫn tôi đến kinh thành của vua rắn



    私は蛇の王子(おうじ)です。」



    tôi là hoàng tử rắn



    若者は、首に蛇を巻きつけたまま、(おそ)る恐る歩きました。



    chàng thanh niên quấn rắn ở cổ nguyên như thế, sợ hãi bước đi



    やっとたどり着いた蛇のお城の門は、生きた大きい小さい蛇を()んで作った門でした。



    cửa kinh thành rắn cuối cùng lần theo đến được, là cánh cửa đan bằng rắn nhỏ rắn lớn sống



    蛇の王子が門の前で口笛(くちぶえ)()らすと。門がするすると(ひら)きました。



    hoàng tử rắn vừa huýt sao trước cửa thì, cửa dần dần mở ra



    蛇の王子が、羊飼いの若者の耳に、小声で言いました。



    hoàng tử rắn nói nhỏ vào tai chàng chăn cừu



    父王(ちちおう)は、あなたにきっと宝物(たからもの)をお礼にあげようといいますが、あなたは、もっといいものをもらうのですよ。



    “phụ vương chắc chắn sẽ nói là muốn tặng báu vật để đền ơn, nhưng anh sẽ nhận được thứ tốt hơn đó”



    生き物の言葉の分かる力が欲しいと、頼むのです。



    hãy xin là muốn có khả năng hiểu được tiếng của loài vật



    父王は(いや)がるでしょうが、あなたの頼みならかなえてくれるでしょう。」



    phụ vương chắc không thích, nhưng nếu anh cầu xin thì chắc sẽ ban cho



    若者と蛇の王子が、お城に足を踏み入れると、たくさんの蛇が出てきて(むか)ました。



    chàng thanh niên và hoàng tử rắn vừa bước chân vào thành thì nhiều con rắn đi ra đón



    蛇の王様は、息子の帰りが遅くて心配していたので、涙を(なが)し喜びました。



    vua rắn vì lo lắng chuyện con trai về trễ, nên vui mà chảy nước mắt



    「今までどこに行っていたのだね。」



    con đi đâu đến tận giờ vậy?



    「お父様(とうさま)。私は、森で、もう少しで焼け死ぬところでした。



    thưa vua cha, con suýt chút nữa đã bị chết thiêu trong rừng



    この方が、炎の中の私を、助け出してくれたのです。」



    người này đã cứu con ra khỏi lửa



    蛇の王様は羊飼いの若者に何遍もお礼を言いました。



    vua rắn nhiều lần nói đền ơn chàng chăn cừu



    「息子を助けてくれて、本当にありがとう。



    “đã cứu con ta, thật cám ơn



    どうか、私のお礼を受け取ってください。」



    xin hãy nhận lễ vật của ta”



    それなら、生き物の言葉が分かるようになる力を(さず)けてください。」と、若者は、蛇の王子に言われたとおりに頼みました。



    chàng thanh niên cầu xin như hoàng tử rắn bảo “nếu vậy thì, xin hãy dạy/ban cho tôi khả năng hiểu tiếng loài vật”



    「羊飼いさん、そのような(のぞ)だけはやめた方がいい。



    “chàng chăn cừu ơi, bỏ nguyện vọng như thế thì tốt hơn



    生き物の言葉などが分かったら、あなたは不幸(ふしあわ)になってしまいます。



    nếu biết tiếng loài vật này nọ, anh sẽ trở nên bất hạnh



    それに、そんな力があることを誰かに話すと、あなたは死んでしまう。



    hơn nữa, hễ nói chuyện có khả năng như thế cho ai đó, anh sẽ chết mất



    他の宝物を、何か差し上げましょう。」



    xin hãy để tôi tặng báu vật gì khác nhé.”



    蛇の王様は、羊飼いの若者に、教えをかえるように(さと)ましたが、若者はそれでも生き物の言葉が分かるようにしてくれと、(たの)みました。



    vua rắn khuyên chàng chăn cừu thay đổi suy nghĩ, nhưng mặc dù vậy chàng thanh niên cứ cầu xin hãy làm cho anh ta biết được tiếng loài vật.



    「仕方がありません。それほどまでに欲しいなら、あなたの(のぞ)みをかなえてあげましょう。



    không còn cách nào khác. Nếu anh thích đến thế, tôi sẽ đáp ứng nguyện vọng của anh



    さあ、口を大きく開けなさい。」



    nào, xin mở to miệng



    蛇の王様は、羊飼いの若者の口につば()きました。



    vua rắn nhổ nước miếng vào miệng chàng chăn cừu



    そして今度は、若者が蛇の王様の口につばを吐くように(めい)じました。



    rồi, sau đó, ra lệnh cho chàng thanh niên nhổ nước miếng vào miệng vua rắn



    そうして、三遍ずつ()(かえ)ました。



    cứ thế, lặp lại mỗi người ba lần



    「それで、あなたの(のぞ)んだようになります



    “vậy là đã làm như anh mong muốn



    しかし、どんなことがあっても、この秘密を誰にも話してはいけません。



    nhưng, dù có chuyện gì xảy ra, cũng không được nói với ai bí mật này



    話すと、あなたが死んでしまうので、気を付けるように。



    xin hãy cẩn thận, vì hễ nói ra, anh sẽ chết ngay



    (からす)の言葉



    tiếng chim quạ



    蛇の王様と王子に見送(みおく)られて、羊飼いの若者は、牧場(ぼくじょう)に帰りました。



    sau khi được vua và hoàng tử rắn tiễn, chàng chăn cừu trở về nông trại



    羊の(ばん)をしていると、そこ二羽の鴉が飛んできて、おじゃべりを始めました。



    khi đang canh giữ cừu thì hai con quạ bay đến nơi đó, bắt đầu nói chuyện



    「この羊飼いは、なにも知らないんだね。」



    chàng chăn cừu này, chẳng biết gì cả nhỉ



    「黒い羊の寝ている地面の中に、穴があるのに。。。」



    dưới mặt đất con cừu đen nằm, có hang thế mà...



    「金貨や銀貨がぎっしりと()まっていることも、宝物がどっさりあることも、何も知らないんだね。」



    cả chuyện tiền vàng, tiền bạc được chôn giấu đầy nhóc, cả chuyện có cực nhiều báu vật cũng chả biết nhỉ



    見つけたら、貧乏(びんぼう)な暮らしとも(えん)が切れて、この羊飼いも(うん)をつかむのだけど。」



    nếu mà phát hiện ra, cả cái số phận sống nghèo khổ cũng dứt được, mà chàng chăn cừu cũng nắm được vận may thế mà...



    羊飼いの若者は、鳥の言葉が分かるようになっていたので、嬉しくなりました。



    chàng chăn cừu trẻ tuổi vì trở nên hiểu được tiếng loài vật, nên cảm thấy vui mừng



    それに宝物があるなんて、すごい話ではありません。



    hơn nữa, có báu vật này nọ, đâu phải là điều ghê gớm gì



    若者は、すぐに主人(しゅじん)に知らせました。



    chàng thanh niên, lập tức báo cho chủ biết



    「黒い羊の下に、もしかすると、宝物があるかもしれませんよ。」



    “dưới con cừu đen, không chừng có báu vật đó ạ”



    二人が羊の下の(つち)()()こしてみると、そこには、本当(ほんとう)荷馬車(にばしゃ)積みきれないほど、宝物がどっさりあったのです。



    hai người đào đất dưới con cừu lên thử, thì, ở đó, đúng là có cực nhiều báu vật đến mức không chất hết nỗi vô xe ngựa chở hàng



    若者の主人は、心の広い人でした。



    chủ nhân của chàng thanh niên là người phóng khoáng



    「よかったな、これはお前が見つけたんだから、全部お前の物だ。」



    tốt quá nhỉ, vì cái này do anh tìm ra nên là đồ của anh toàn bộ



    こうして(まず)しい羊飼いの若者は、宝物のおかげで家を建て、可愛(かわい)い娘さんと結婚(けっこん)をしました。



    theo như trên, chàng chăn cừu nghèo, nhờ có báu vật, nên xây nhà, cưới một cô gái dễ thương



    若者は、もともと働き者なので、羊や牛はどんどん()えて、この辺りきっての、お金持ちになりました。



    chàng thanh niên vốn dĩ là người siêng năng, nên cừu bò tăng lên ào ào, trở thành người giàu có nhất vùng



    農場(のうじょう)も広くなり、羊や牛やぶたの番をする人もいます。



    nông trường cũng trở nên rộng ra, người canh giữ cừu, bò, heo cũng có



    犬と(おおかみ)の言葉



    tiếng nói của chó và sói



    ある日のこと。



    chuyện một ngày nọ



    お金持ちになった羊飼いの若者が、おかみさんに言いました。



    chàng chăn cừu đã trở nên giàu có nói với vợ



    「明日、羊の番をしている者達の所に、ご馳走を持って行ってやりたい。



    “hôm nay tôi muốn mang thức ăn ngon đến chỗ của nhóm canh cừu”



    どっさり作っておくれ。」



    làm thật nhiều vào cho tôi



    あくる日、二人はいっぱいご馳走を持って、羊飼いの小屋を(たず)ました。



    sáng hôm sau, hai người mang thức ăn ngon, thăm căn lều nhỏ của người chăn cừu



    やあ、いつもご苦労(くろう)様!みんな、たっぷり食べて飲んで、歌っておくれ。



    này, luôn làm các anh cực khổ nhiều! mọi người hãy ăn uống no say và hát hò đi



    今夜は、私が羊の番をするから。何でも心配しないで、好きなだけ飲むといい。」



    đêm nay, vì tôi sẽ canh chừng cừu, nên đừng lo lắng gì, dẫu có uống hết mức cũng được



    羊飼い達が、お腹いっぱい食べて眠ってしまったので、若者は(ひさ)しぶりに羊の番をすることになりました。



    vì nhóm chăn cừu ăn no nên ngủ mất tiêu, chàng thanh niên lâu ngày mới canh cừu trở lại



    真夜中(まよなか)、羊達が眠ってしまうと、牧場で話がしました。



    đúng giữa đêm, bọn cừu đã ngủ cả thì trong nông trại có tiếng nói chuyện



    狼達がやってきて、羊番の若い犬達に話しかけているのです。



    là bọn sói đến, đang bắt chuyện với bọn chó chăn cừu trẻ



    「おい、しばらくの間、見ない()りをしていてくれないか。



    “này, giả vờ không thấy trong một chốc cho chúng tôi được không?



    お前達にも肉の切れ(はし)を分けてやるから。」



    vì chúng tôi sẽ chia mẩu thịt cho các anh”



    「ああ、早いとこ、やってくれ。



    “a, làm lẹ lên”



    おれ達も、たまには羊の肉のご馳走(ちそう)分け前をいただきたいよ。」



    bọn chúng tôi thỉnh thoảng cũng muốn ăn phần đồ ăn ngon là thịt cừu



    その時、年を取って歯の()けたよぼよぼの犬が、フンフン()()てました



    lúc đó, con chó già yếu ớt răng rụng sủa lên “gâu gâu”



    「お前達、何と言うことを言うんだ。



    “bọn chúng mày nói chuyện gì thế”



    いいか、わしが一本でも歯が残っているうちは、羊は(まも)()ぞ。」



    thế nào, tao trong lúc dẫu chỉ còn một cái răng, cũng sẽ canh suốt đó



    その犬が(はげ)しく()えたので、狼は仕方がなく森へ帰って行きました。



    vì con chó ấy sủa dữ quá, nên sói đành phải trở về rừng



    若者は、狼と犬の話すことを、すっかり聞いてしまったので、次の朝、羊飼い達にいつけました。



    chàng thanh niên vì nghe toàn bộ câu chuyện của chó và sói nên sáng hôm sau, ra lệnh cho nhóm chăn cừu



    「あの、年を取った犬は,良い犬だ。大事にしてやってくれ。



    “này, con chó già là chó tốt, nên chăm sóc cẩn thận cho tôi ”



    他の若い犬は、(ぼう)(たた)きのめしてくれ。



    còn mấy con chó trẻ khác, đánh bằng gậy thẳng tay cho tôi



    「そんなひどいことを、どうしてするんですか。



    “tại sao lại làm dữ vậy nhỉ



    あの犬達は、夜の(あいだ)、狼からを守ってくれているのですよ。」



    bọn chó ấy, canh giữ cừu không cho sói ăn cho chúng ta trong đêm mà”



    羊飼い達はびっくりして言いました。



    nhóm chăn cừu ngạc nhiên nói



    でも、若者は生き物の言葉が分かるので、狼と犬の話を知っていました。



    nhưng, vì chàng thanh niên biết tiếng loài vật, nên biết chuyện của sói và chó



    でも、羊飼い達にそのことを話すことができません。



    nhưng không thể nói chuyện đó cho nhóm chăn cừu nghe được



    いいから、私の言うようにしてくれ。」



    thôi được rồi, hãy làm như tôi nói đi



    馬の言葉



    tiếng ngựa



    そうして、若者は、おかみさんと二人で牧場から家に帰りました。



    và rồi, chàng thanh niên và vợ từ nông trại quay về nhà



    若者は,(おす)の馬に乗り、おかみさんは、(めす)の馬は、ぜいぜい(いき)()らし、遅れてしまいます。



    chàng thanh niên cỡi ngựa đực, cô vợ thì, cỡi ngựa cái, thở không ra hơi hổn hển đi tụt lại phía sau



    雄馬は、雌馬を(しか)()ました。



    ngựa đực la ngựa cái



    何だ、だらしないなあ、しっかりしてくれよ。



    cái quái gì mà lôi thôi thế, đi nhanh nào



    もっと(はや)く歩けないのか。



    không thể đi nhanh hơn được à?



    雌馬は、雄馬を見て(つら)そうに言いました。



    ngựa cái nhìn ngựa đực, nói vẻ cay đắng



    「そんなこと無理(むり)よ。



    “chuyến như thế em không làm được



    だって私は、三人も運んでいるんですもの。」



    tại sao hả? là vì em chở đến ba người



    「三人だって?どうして。。。」



    “tới ba người? tại sao?”



    「おかみさんのお腹の中には、赤ちゃんが(はい)っているのよ。



    trong bụng cô vợ, có em bé đó



    それに、私のお腹にも、あなたの赤ちゃんがいるのよ。



    hơn nữa, trong bụng em cũng có em bé của anh



    重くて、そんなに速く歩けないわ。」



    vì nặng nên không thể đi nhanh thế được



    雄馬はそれを聞くと、雌馬の歩く足取りに合わせ、自分もゆっくり歩き出しました。



    ngựa đực nghe thế bèn điều chỉnh bước chân cho bằng với ngựa cái, bản thân mình cũng bước chậm lại



    その話を聞いた若者は、嬉しくなり、大きな声を上げて笑い出しました。



    chàng thanh niên nghe câu chuyện đó, cảm thấy vui mừng, nên phá ra cười to



    まだおかみさんも、自分のお腹に子供がいるなんてなにも知らないのだから、愉快(ゆかい)たまりません。



    vì cô vợ chưa hề biết trong bụng mình có em bé này kia, nên rất thoải mái



    「あなた、何を笑っているんですか。」おかみさんは、不思議に思いました。



    vợ thấy lạ “anh cười gì vậy?”



    「いや、何でもないことさ。」



    “không, không có chuyện gì đâu”



    「私は、笑ったわけを知りたいのですよ。」



    “em muốn biết lý do anh đã cười đó”



    おかみさんは、しつこく言い張り、家に帰ると(おこ)り出してしまいました。



    cô vợ cứ khăng khăng đòi, về đến nhà thì nổi giận luôn



    「この秘密を、人に話すと、私はたちまち死んでしまうのだよ。」



    “bí mật này, nếu nói cho người biết, anh sẽ chết ngay đó”



    それでもおかみさんは、聞きたがって()()てます



    mặc dầu vậy, cô vợ vẫn trách cứ đòi nghe



    若者は、仕方がなく話すことにしました



    chàng thanh niên, không còn cách nào khác, quyết định nói



    蛇の王様との約束で、秘密を()らすと、死んでしまうので、土の中に穴を()、その中に横たわりました。



    vì theo hẹn ước với vua rắn, hễ để lộ bí mật, thì chết, nên anh đào lỗ trong lòng đất, rồi nằm vào trong đó



    主人(しゅじん)思いの犬が、その周りで悲しそうに鳴きました。



    con chó quý chủ, kêu vẻ đau buồn xung quanh đó



    若者は、犬にパンをやりましたが、犬は食べ物など見向(みむ)きもしません



    chàng thanh niên cho chó bánh mì, con chó không thèm đoái hoài đến thức ăn gì cả



    雄鶏(おんどり)の言葉



    tiếng gà trống



    その時、雄鶏が雌鳥(めんどり)を連れてきて、パンを突付(つつ)きました



    lúc đó, gà trống dẫn gà mái đến, mổ bánh mì



    「こら!ご主人が大変な時に、食べたりしてはだめじゃないか。」



    “này, lúc ông chủ nguy khốn mà còn ăn này nọ được hả?”



    犬が叱りつけると、おんどりは、若者が土の中に横たわっているのを、ちろっと見ました。



    khi con chó mắng, con gà trống nhìn thoáng qua chỗ chàng thanh niên đang nằm trong lòng đất



    「人間の男は、なんて(なさ)けないんだ。



    “đàn ông thật xấu hồ



    そんな意気地(いくじ)なしは、勝手(かって)死ぬといいさ。



    hèn nhát như thế, chết quách cho rồi.



    おれなんか、めんどりがうるさい時は、(はね)でこうやって、ばしっと(たた)いて(だま)らせている。」



    người như ta đây, khi gà mái mà làm om sòm, dùng cánh làm như thế này, đánh cho cái bốp, bắt phải im



    おんどりは、(したが)えていためんどりを、(たた)振りをしました。



    gà trống giả bộ đánh con gà mái đi theo



    (まった)く、自分のおかみさんが怖くて死ぬなんてあきれたよ。



    hoàn toàn không có kẻ chết vì sợ vợ mình, thiệt là đáng ngạc nhiên



    そんなおんどりは、どこにもいない。」



    thứ gà trống như thế, chẳng đâu có cả



    若者は、その話を聞いて、土の中から立ち上がり、おかみさんに言いました。



    chàng thanh niên, nghe chuyện đó, bèn đứng lên khỏi lòng đất, nói với cô vợ



    「話すと私が死ぬのに、それでも知りたいのか。



    dù nói cả chuyện tôi sẽ chết, thế mà vẫn cô muốn biết sao?



    そういう人とは、もう一緒に暮らせない



    tôi không thể sống với người như thế được nữa



    どこへでも行くといい!」



    cô đi đâu thì đi đi



    若いおかみさんは、今まで若者に叱られたことがなかったので、びくりしてしまいました。



    cô vợ trẻ vì cho đến nay chưa từng bị chàng thanh niên mắng, nên giật mình



    そして、もう二度と笑ったわけを聞きたがって、(さわ)いだりしなくなりました。



    không dám làm om sòm hay muốn nghe lý do tại sao cười lần thứ hai nữa



    若者は、雌馬が、「私は、三人も乗せて大変だ。」とふうふう言っていたことを思い出しました。



    chàng thanh niên nhớ chuyện con ngựa cái thở phì phì nói “em chở đến ba người, khổ lắm”



    そして、今までよりもいっそうおかみさんを大事にして、家の中の仕事もどんどん手伝(てつだ)いました。



    và rồi chăm sóc vợ nhiều hơn, giúp cả mọi chuyện trong nhà



    おかみさんも、朝早くから()き、くるくるとよく働くようになったということです。



    cô vợ cũng thức dậy từ sáng sớm, làm việc cần mẫn không mệt mỏi



  5. #5
    Mới nở hana_bira is infamous around these parts hana_bira's Avatar
    Ngay tham gia
    Aug 2011
    Bài viết
    1
    Rep Power
    0


    天の羽衣


    むかしむかし、山のすその村に、いかとみという、狩人(かりゅうど)が住んでいました。

     よく晴れた、春の朝のことです。

     いかとみは、いつものように、けものをさがしに山を登っていきました。

    「いい朝だなあ」

     いかとみが空を見上げると、さっきまですみきっていた青空に、いつの間にか白いかすみのようなものが、いくえにもたなびいています。(続き


    ̣ áo lông chim của trời


    Ngày xửa ngày xưa, ở một ngôi làng dưới chân núi, có anh chàng thợ săn sinh sống tên là Ikatomi.


    Vào một buổi sáng mùa xuân rất đẹp trời.


    Ikatomi leo lên núi để tìm thú như mọi khi.


    Một buổi sáng đẹp quá nhỉ!


    Ikamoto vừa nhìn lên bầu trời, thì không biết tự lúc nào, trên bầu trời trong xanh vừa mới lúc nãy đây xuất hiện thứ giống như làn sương mù trắng kéo thành một dải dài. (còn tiếp)


  6. #6
    Mới nở hana_bira is infamous around these parts hana_bira's Avatar
    Ngay tham gia
    Aug 2011
    Bài viết
    1
    Rep Power
    0


     


     天の羽衣続き


    ̣ áo lông chim ca tri (tiếp theo)


    見つめていると、ふしぎなことに、かすみはフワフワと空をとんでいるのです。


    「あっ、あれは白鳥か。八羽もいるぞ」


     いかとみは、いそいで湖に近寄りました。


     すると、湖で泳いでいるのは白鳥ではなく、今まで見たこともないほど美しい、八人の乙女たちだったのです。


     いかとみがふと、あたりを見回すと、少しはなれた松の枝に、まっ白い布が、かけてあります。(続き


    Đang nhìn chăm chú lên bầu trời, thì thật bất ngờ, làn sương mù là một thứ đang bay phiêu diêu trên bầu trời.


    a! Kia là bầy chim thiên nga à. Có đến tám con!


    Ikatomi đã vội vàng đến gần hồ.


    Rồi thì, đang bơi trong hồ không phải là bầy chim thiên nga, mà là tám người con gái vô cùng xinh đẹp mà anh chưa nhìn thấy bao giờ.


    Ikatomi bất chợt nhìn xung quanh, thì trên nhánh cây tùng cách đó không xa, có những bộ áo trắng tinh đang được treo ở đó. (còn tiếp)


  7. #7
    Mới nở hana_bira is infamous around these parts hana_bira's Avatar
    Ngay tham gia
    Aug 2011
    Bài viết
    1
    Rep Power
    0

    天の羽衣 "MS Pゴシック";mso-font-kerning:0pt">(続き)


    0pt">Bô 0pt;mso-ansi-language:VI">̣ áo lông chim c "Courier New";mso-font-kerning:0pt;mso-ansi-language:VI">ủ mso-bidi-font-family:"MS Pゴシック";mso-font-kerning:0pt;mso-ansi-language:VI">a tr mso-bidi-font-family:"Courier New";mso-font-kerning:0pt;mso-ansi-language:VI">ờ mso-bidi-font-family:"MS Pゴシック";mso-font-kerning:0pt;mso-ansi-language:VI">i mso-bidi-font-family:"MS Pゴシック";mso-font-kerning:0pt;mso-ansi-language:VI"> (tiê color:black;mso-font-kerning:0pt;mso-ansi-language:VI">́ "MS Pゴシック";color:black;mso-font-kerning:0pt;mso-ansi-language:VI">p theo)

    「なんてきれいな着物だろう。これはきっと、天女(てんにょ)の着る羽衣(はごろも)にちがいない。持って帰って家宝(かほう)にしよう」

     いかとみは、そのうちの一枚をふところにしまいました。

     やがて、水浴びをしていた天女たちが水からあがると、羽衣を身につけて空に舞い上がっていきました。


     でも、1人の天女だけが、その場に取り残されてしまいました。

     いかとみが彼女の羽衣を取ってしまったため、天に帰れないのです。
    (続き)


    Trang phục đẹp quá! Cái này chắc chắn là áo lông chim của tiên nữ đây. Để mình lấy một bộ mang về làm của trong nhà. mso-ascii-font-family:"Verdana Ref";mso-hansi-font-family:Century;mso-ansi-language:
    VI">」


    Ikatomi đã lấy cất vào trong ngực áo một cái trong số đó.


    Lập tức, các tiên nữ đang bơi ra khỏi mặt nước, khoác áo lông chim vào người và bay mất dạng trên bầu trời.


    Thế nhưng, vẫn còn một người con gái ở lại nơi đó.


    Bởi vì Ikatomi đã lấy mất áo lông chim của cô ấy, cho nên cô ấy không thể về trời được. mso-bidi-font-family:"MS Pゴシック";mso-font-kerning:0pt;mso-ansi-language:VI"> (còn tiếp)


  8. #8
    Mới nở hana_bira is infamous around these parts hana_bira's Avatar
    Ngay tham gia
    Aug 2011
    Bài viết
    1
    Rep Power
    0


    天の羽衣 "MS Pゴシック";mso-font-kerning:0pt">(続き)


    "MS Pゴシック";mso-font-kerning:0pt">Bô mso-font-kerning:0pt;mso-ansi-language:VI">̣ áo lông chim c "Courier New";mso-font-kerning:0pt;mso-ansi-language:VI">ủ "MS Pゴシック";mso-font-kerning:0pt;mso-ansi-language:VI">a tr "Courier New";mso-font-kerning:0pt;mso-ansi-language:VI">ờ "MS Pゴシック";mso-font-kerning:0pt;mso-ansi-language:VI">i "MS Pゴシック";mso-font-kerning:0pt;mso-ansi-language:VI"> (tiê "Courier New";color:black;mso-font-kerning:0pt;mso-ansi-language:VI">́ "MS Pゴシック";color:black;mso-font-kerning:0pt;mso-ansi-language:VI">p theo)


    Century;mso-hansi-font-family:Century;mso-ansi-language:VI">  Century">シクシク泣きくずれる天女の姿に、心を痛めたいかとみは、天女に羽衣をさし出しました。

    mso-hansi-font-family:Century">「まあ、うれしい。ありがとうございます」

    mso-hansi-font-family:Century"> ニッコリほほえむ天女に、すっかり心をうばわれたいかとみは、羽衣を返すのを止めました。

    mso-hansi-font-family:Century">「この羽衣は返せません。それよりも、わたしの妻になってください」

    mso-hansi-font-family:Century"> 天女は何度も返して欲しいと頼みましたが、いかとみは返そうとしません。

    mso-hansi-font-family:Century"> しかたなく、天女はいかとみの妻になりました。

    mso-hansi-font-family:Century"> そして、三年が過ぎました。 mso-font-kerning:0pt">(続き)


    Ikatomi đau lòng với dáng vẻ khóc thút thít ru Century">̃ rượi, đã chìa chiếc áo ra cho tiên nữ.


    Century">「Ôi! Vui sướng quá! Cảm ơn anh! Century">」


    Thế nhưng, Ikatomi đã dừng lại việc trả lại áo, bởi vì anh đã bị nàng tiên nữ đang mỉm cười kia lấy mất trái tim của anh ta.


    "Times New Roman";mso-hansi-font-family:"Times New Roman"">「Tôi không thể trả áo lông chim này. Hay hơn thế, nàng hãy làm vợ của tôi! Century">」


    Nàng tiên nữ rất nhiều lần van nài anh ta trả lại chiếc áo, nhưng Ikatomi không hề có ý định trả lại.


    Không còn cách nào khác, nàng tiên nữ đã trở thành vợ của Ikatomi.


    mso-font-kerning:1.0pt;mso-ansi-language:EN-US;mso-fareast-language:JA;
    mso-bidi-language:AR-SA">Và rồi, ba năm đã trôi qua. (còn tiếp)

  9. #9
    Mới nở hana_bira is infamous around these parts hana_bira's Avatar
    Ngay tham gia
    Aug 2011
    Bài viết
    1
    Rep Power
    0


    天の羽衣 "MS Pゴシック";mso-font-kerning:0pt">(続き)


    "MS Pゴシック";mso-font-kerning:0pt">Bô mso-font-kerning:0pt;mso-ansi-language:VI">̣ áo lông chim c "Courier New";mso-font-kerning:0pt;mso-ansi-language:VI">ủ "MS Pゴシック";mso-font-kerning:0pt;mso-ansi-language:VI">a tr "Courier New";mso-font-kerning:0pt;mso-ansi-language:VI">ờ "MS Pゴシック";mso-font-kerning:0pt;mso-ansi-language:VI">i "MS Pゴシック";mso-font-kerning:0pt;mso-ansi-language:VI"> (tiê "Courier New";color:black;mso-font-kerning:0pt;mso-ansi-language:VI">́ "MS Pゴシック";color:black;mso-font-kerning:0pt;mso-ansi-language:VI">p theo)

    mso-hansi-font-family:Century"> いかとみと天女は、仲良く暮らしていましたが、天女はいつも、天にある自分たちの世界に帰りたいと思っていました。

    mso-hansi-font-family:Century"> ある日、いかとみが狩りに出かけたときのこと、天女は家のそうじをしていました。

    mso-hansi-font-family:Century"> そして、天井裏に黒い紙つつみがあるのに気づきました。

    mso-hansi-font-family:Century"> その紙つつみを開けてみますと、あの羽衣が入っていました。

    mso-hansi-font-family:Century">「・・・どうしよう?」

    mso-hansi-font-family:Century"> 天女はなやみました。

    mso-hansi-font-family:Century"> 天女は、いかとみと暮らすうちに、いかとみの事が好きになっていたのです。

    mso-hansi-font-family:Century"> でも、天の世界に帰りたい。


    Ikatomi và tiên nữ đã sống với nhau rất vui vẻ và hạnh phúc. Thế nhưng tiên nữ lúc nào cũng có suy nghĩ muốn trở về thế giới của mình ở trên trời.


    Một ngày nọ, khi Ikatomi rời khỏi nhà để đi săn bắn, tiên nữ đã dọn dẹp nhà cửa.


    Và rồi nàng phát hiện ra có một gói giấy màu đen nằm phía sau giếng trời.


    Khi nàng mở gói giấy đó ra thì bộ áo lông chim nằm trong đó.


    "Times New Roman";mso-ansi-language:VI">「... làm sao bây giờ đây??? "Times New Roman";mso-ansi-language:VI">」


    Tiên nữ rất khổ tâm.


    Trong thời gian sống với Ikatomi, nàng tiên nữ đã yêu thương Ikatomi.


    Tuy nhiên, nàng lại muốn trở về thượng giới. (còn tiếp)


  10. #10
    Mới nở hana_bira is infamous around these parts hana_bira's Avatar
    Ngay tham gia
    Aug 2011
    Bài viết
    1
    Rep Power
    0


    天の羽衣 "MS Pゴシック";mso-font-kerning:0pt">(続き)


    "MS Pゴシック";mso-font-kerning:0pt">Bô mso-font-kerning:0pt;mso-ansi-language:VI">̣ áo lông chim c "Courier New";mso-font-kerning:0pt;mso-ansi-language:VI">ủ "MS Pゴシック";mso-font-kerning:0pt;mso-ansi-language:VI">a tr "Courier New";mso-font-kerning:0pt;mso-ansi-language:VI">ờ "MS Pゴシック";mso-font-kerning:0pt;mso-ansi-language:VI">i "MS Pゴシック";mso-font-kerning:0pt;mso-ansi-language:VI"> (tiê "Courier New";color:black;mso-font-kerning:0pt;mso-ansi-language:VI">́ "MS Pゴシック";color:black;mso-font-kerning:0pt;mso-ansi-language:VI">p theo)

    mso-hansi-font-family:Century"> このままいかとみの妻として、地上で暮らすか、それとも天の世界に帰るか。

    mso-hansi-font-family:Century"> さんざんなやみましたが、天女は帰ることにしました。

    mso-hansi-font-family:Century"> そのころいかとみは、獲物をたくさんつかまえたので、その獲物を町で売って、天女のために、きれいなクシを買って帰る途中でした。

    mso-hansi-font-family:Century"> ふと空を見上げると、いかとみの妻の天女が、天に帰る姿が見えました。

    mso-hansi-font-family:Century">「あっ、まっ、まさか! おーい、待ってくれー! Century">」

    mso-hansi-font-family:Century"> いかとみは、力の限り天女を追いかけましたが、そのうち、天女の姿は見えなくなってしまいました。(終わり)


    Sống ở trần thế với vai trò là vợ của Ikatomi như hiện nay hay là trở về thượng giới.


    Nàng tiên nữ đã vô cùng đau khổ, nhưng cuối cùng nàng đã chọn việc quay về.


    Lúc đó. Ikatomi vì đã bắt được rất nhiều thú, nên đã bán số thú đó ở phố và đang trên đường mua cho nàng tiên nữ cây lược đẹp và quay về nhà.


    mso-ansi-language:VI">̃ng nhiên, khi Ikatomi nhìn lên bầu trời thì đã nhìn thấy bóng dáng của nàng tiên nữ vợ của mình đang trở về trời.


    "Times New Roman";mso-ansi-language:VI">「aa… ôi... hãy đợi tôi!!! "Times New Roman";mso-ansi-language:VI">」


    Ikatomi đã dùng hết sức đuổi theo nàng tiên nữ, thế nhưng trong lúc đó, bóng dáng cuả nàng tiên nữ đã mất dạng.


    (kết thúc)


+ Trả lời Chủ đề
Trang 1 của 2 1 2 CuốiCuối
Quyền viết bài
  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình