+ Trả lời Chủ đề

Chủ đề: Hoàng thành Thăng Long - di sản văn hoá thế giới

Trang 1 của 2 1 2 CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 11
  1. #1
    Vượt ngàn trùng sóng emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc's Avatar
    Ngay tham gia
    Dec 2008
    Bài viết
    4,187
    Rep Power
    73

    Hoàng thành Thăng Long - di sản văn hoá thế giới

    Hoàng thành Thăng Long là quần thể di tích gắn với lịch sử kinh thành Thăng Long - Hà Nội bắt đầu từ thời kỳ từ tiền Thăng Long (An Nam đô hộ phủ thế kỷ VII) qua thời Đinh - Tiền Lê, phát triển mạnh dưới thời Lý, Trần, Lê và thành Hà Nội dưới triều Nguyễn. Đây là công trình kiến trúc đồ sộ, được các triều vua xây dựng trong nhiều giai đoạn lịch sử và trở thành di tích quan trọng bậc nhất trong hệ thống các di tích Việt Nam.

    Vào lúc 20 giờ 30 ngày 31/7/2010 theo giờ địa phương tại Brasil, tức 6 giờ 30 ngày 1/8/2010 theo giờ Việt Nam, Ủy ban di sản thế giới đã thông qua nghị quyết công nhận khu Trung tâm hoàng thành Thăng Long - Hà Nội là di sản văn hóa thế giới. Những giá trị nổi bật toàn cầu của khu di sản này được ghi nhận bởi 3 đặc điểm nổi bật: chiều dài lịch sử văn hóa suốt 13 thế kỷ; tính liên tục của di sản với tư cách là một trung tâm quyền lực, và các tầng di tích di vật đa dạng, phong phú.

    Lịch sử - truyền thuyết
    Phác thảo kinh thành Thăng Long - Viện sử học


    Năm 938, Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, mở ra một kỉ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam, kỉ nguyên độc lập tự chủ. Thế nhưng, sau khi Ngô Vương mất, đất nước lại rơi vào cảnh loạn 12 sứ quân đến khi Đinh Bộ Lĩnh phất cờ lau dẹp loạn, lên ngôi, lấy hiệu là Đinh Tiên Hoàng. Kinh đô lúc bấy giờ được xây dựng ở quê hương Hoa Lư (Ninh Bình hiện nay). Triều đại nhà Đinh tồn tại ngắn ngủi trong vòng 12 năm (968 - 980), nhà Tiền Lê lên thay. Hoa Lư vẫn được chọn là kinh đô và là trung tâm chính trị. Hoa Lư đã hoàn thành tốt chức năng của mình. Thế nhưng, kinh đô còn là trung tâm văn hoá và kinh tế. Với vị trí địa lí và yêu cầu đổi mới của lịch sử, kinh đô Hoa Lư không thực hiện được trọng trách này. Khi Lý Thái Tổ lên ngôi, nhận thấy điểm yếu của Hoa Lư nên ông đã quyết định dời đô. Đây là một quyết định táo bạo thể hiện tầm nhìn chiến lược và kinh nghiệm hoạt động quân sự của Lý Thái Tổ. Thành Đại La đã được chọn là kinh đô mới. Nhân khi vừa đến thành Đại La, vua Lý đã nhìn thấy hình tượng rồng bay lên và đặt tên cho vùng đất kinh kì này là Thăng Long.

    theo Vietgle.vn, Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
    Lần sửa cuối bởi mtd-group, ngày 26-02-2013 lúc 03:56 PM.
    I am not a scientist. I am, rather, an impresario of scientists.

  2. #2
    Vượt ngàn trùng sóng emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc's Avatar
    Ngay tham gia
    Dec 2008
    Bài viết
    4,187
    Rep Power
    73

    Các giá trị nổi bật toàn cầu

    Khu di tích Hoàng thành Thăng Long có diện tích khai quật lên đến 19.000m2, có giá trị về nhiều mặt như vị trí của khu di tích trong cấu trúc thành Thăng Long - Hà Nội, tính chất, niên đại các di tích, giá trị, cấu trúc, niên đại một số di vật, mối quan hệ giữa các tầng văn hoá... Theo kết quả so sánh của một số nhà khoa học trong nước và quốc tế thì di sản này mang tầm cỡ thế giới, thoả mãn các tiêu chí để được UNESCO công nhận là Di sản văn hoá thế giới. Ông Koichiro Matsura, Chủ tịch UNESCO từng nói: “Khu di tích này có giá trị văn hoá và lịch sử vô cùng quan trọng. Chiếu theo Công ước về Di sản văn hoá thế giới, nó hoàn toàn có thể được xem là di sản văn hoá của nhân loại”.

    Theo tiêu chí (II): Những di tích trên mặt đất và khai quật được trong lòng đất tại Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội là minh chứng đặc sắc về quá trình giao lưu văn hóa lâu dài, là nơi tiếp nhận nhiều ảnh hưởng văn hóa từ bên ngoài, nhiều học thuyết, tư tưởng có giá trị toàn cầu của văn minh nhân loại, đặc biệt Phật giáo, Nho giáo, thuyết phong thủy, mô hình vương thành phương Đông, mô hình kiến trúc quân sự phương Tây (thành Vauban), đến từ Trung Hoa, Champa, Pháp, để tạo dựng nên những nét độc đáo, sáng tạo của một Trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của một quốc gia vùng châu thổ sông Hồng. Kết quả giao thoa, tiếp biến văn hóa đó được biểu đạt trong tạo dựng cảnh quan, qui hoạch các khu cung điện, trong nghệ thuật kiến trúc và nghệ thuật trang trí cung đình với diễn biến văn hóa đa dạng qua các thời kỳ lịch sử.

    Theo tiêu chí (III): Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội là minh chứng duy nhất về truyền thống văn hóa lâu đời của người Việt ở châu thổ sông Hồng trong suốt lịch sử liên tục 13 thế kỷ (trải từ thời tiền Thăng Long, qua thời Đinh- Tiền Lê, đến thời kỳ Thăng Long-Hà Nội với các vương triều Lý-Trần-Lê-Nguyễn) và vẫn được tiếp nối cho đến ngay nay. Những tầng văn hóa khảo cổ, di tích kiến trúc và nghệ thuật của di sản phản ánh một chuỗi lịch sử nối tiếp nhau liên tục của các vương triều cai trị đất nước Việt Nam trên các mặt tư tưởng, chính trị, hành chính, luật pháp, kinh tế và văn hoá trong gần một ngàn năm. Trên thế giới rất hiếm tìm thấy một di sản thể hiện được tính liên tục dài lâu như vậy của sự phát triển chính trị, văn hoá như tại khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội.

    Theo tiêu chí (VI): Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội minh chứng rõ nét về một di sản có liên hệ trực tiếp với nhiều sự kiện trọng đại của lịch sử của một quốc gia dân tộc vùng Đông Nam Á trong mối quan hệ khu vực và thế giới. Di sản đề cử là bằng chứng thuyết phục về sức sống và khả năng phục hưng của một quốc gia sau hơn mười thế kỷ bị nước ngoài đô hộ. Di sản đề cử còn ghi đậm dấu ấn thắng lợi của một nước thuộc địa trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, giành độc lập dân tộc, có ảnh hưởng rộng lớn trong phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.
    Lần sửa cuối bởi emcungyeukhoahoc, ngày 27-12-2012 lúc 11:29 AM.
    I am not a scientist. I am, rather, an impresario of scientists.

  3. #3
    Vượt ngàn trùng sóng emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc's Avatar
    Ngay tham gia
    Dec 2008
    Bài viết
    4,187
    Rep Power
    73

    Lịch sử phát triển

    Giai đoạn tiền Thăng Long

    Thời kỳ Nhà Đường, An Nam được chia thành 12 châu với 50 huyện, Tống Bình là trung tâm của An Nam đô hộ phủ, lần đầu tiên vùng đất sau là kinh thành Thăng Long nắm giữ vai trò một trung tâm quyền lực chính trị. Năm 866, viên tướng nhà Đường Cao Biền xây dựng một thành trì mới, Tống Bình được đổi tên thành Đại La – thủ phủ của Tĩnh Hải quân. Theo truyền thuyết, khi đắp thành, Cao Biền thấy một vị thần hiện lên tự xưng là thần Long Đỗ. Vì vậy, sử sách còn gọi Thăng Long là đất Long Đỗ.

    Cuối thế kỷ 9, chính quyền trung ương nhà Đường suy yếu nghiêm trọng. Đầu thế kỷ 10, các thế lực cát cứ nổi lên đánh giết lẫn nhau, tạo ra thế loạn chia cắt Ngũ Đại Thập Quốc. Khúc Thừa Dụ, khi đó là Hào trưởng Chu Diên, được dân chúng ủng hộ, đã tiến ra chiếm đóng phủ thành Đại La, tự xưng là Tiết độ sứ. Sau khi đã nắm được quyền lực thực tế trên đất Tĩnh Hải quân, ông đã cho xây dựng chính quyền dựa trên danh xưng của chính quyền đô hộ nhà Đường, nhưng thực chất là một chính quyền độc lập và do người Việt quản lý.

    Năm 931, Dương Đình Nghệ đem quân từ Ái châu ra Đại La đánh đuổi thứ sử Lý Tiến của nước Nam Hán. Lý Tiến bỏ chạy, Dương Đình Nghệ giải phóng thành Đại La giành quyền tự chủ cho đất nước Việt được 6 năm thì bị Kiều Công Tiễn giết hại. Năm 938, Ngô Quyền hạ thành Đại La, tiêu diệt Kiều Công Tiễn. Sau đó, ông chỉ huy trận Bạch Đằng, đánh bại quân Nam Hán, giết chết Hoằng Thao. Mùa xuân năm 939, ông xưng là Ngô Vương, không đóng đô ở Đại La mà về Cổ Loa. Sau loạn 12 sứ quân, các triều đại Đinh, Tiền Lê đóng đô ở Hoa Lư. Đại La lúc này do Đô hộ phủ sĩ sư Lưu Cơ cai quản và tu sửa Hoàng thành quay về hướng nam (hướng về kinh đô Hoa Lư thay vì hướng về phương bắc như chính quyền đô hộ đã làm) vì thế mà vị quan này được coi là người "giao chìa khóa" thành Đại La cho Lý Thái Tổ.

    Thời Lý - Trần
    Năm 1010, vua Lý Thái Tổ quyết định dời đô từ Hoa Lư đến Đại La thành. Trong khi đi thuyền đến thành, nhà vua đã nhìn thấy hình ảnh một con rồng bay lên nên quyết định đổi tên Đại La thành Thăng Long. Trong Chiếu dời đô thông cáo khắp thiên hạ, nhà vua đã đề cao vị trí đắc địa của kinh đô mới: "Thành Đại La (Hà Nội ngày nay - BTV) ở vào nơi trung tâm của trời đất, được cái thế rồng cuộn, hổ ngồi. Đã đúng ngôi Nam, Bắc, Đông, Tây, lại tiện đường nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vật cũng phong phú tốt tươi. Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước, cũng là nơi bậc nhất của các bậc đế vương muôn đời. Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở". Điều này đã khẳng định, vị vua đầu tiên của triều đại nhà Lý đã có một tầm nhìn chiến lược. Việc dời đô là một tiền đề quyết định kinh đô sẽ trở thành một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của cả nước. Cũng từ đây, Thăng Long trở thành nơi định đô của nước ta trong gần 1000 năm với mong muốn đây là nơi "mưu toan nghiệp lớn, tính kế lâu dài cho con cháu đời sau" của Lý Thái Tổ.
    Bản khắc mạ vàng Chiếu dời đô được thờ ở Đền Đô (Bắc Ninh)


    Theo các tài liệu sử còn lưu lại đến ngày nay thì vua Lý Thái Tổ quyết định dời đô vào đầu tháng Bảy năm Canh Tuất (1010). Ngay trong đợt xây dựng đầu tiên, quy mô kinh thành được xây dựng bề thế: "Phía trước dựng điện Càn Nguyên làm chỗ coi chầu, bên tả xây điện Tập Hiền, bên hữu dựng điện Giảng Võ. Lại mở cửa phi long thông với cung Nghênh Xuân, cửa Đan Phượng thông với cung Uy Viễn, hướng chính Nam dựng điện Cao Minh... sau điện Càn Nguyên dựng hai điện Long An và Long Thuỵ làm nơi vua nghỉ. Bên tả xây điện Nhật Quang, bên hữu xây điện Nguyệt Minh, phía sau dựng hai cung Thúy Hoa và Long Thuỵ làm chỗ ở cho cung nữ. Trong thành làm chùa Hưng Thiên và trinh lâu Ngũ Phượng. Ngoài thành về phía Nam dựng chùa Thắng Nghiêm" (ĐVSKTT). Đến năm 1029, vua Lý Thái Tông cũng cho trùng tu lại hệ thống cung điện và xây dựng thêm một số công trình mới như: "Trên nền điện Càn Nguyên đổ nát dựng điện mới Thiên An, bên tả dựng điện Tuyên Đức, bên hữu dựng điện Diên Phúc, thềm trước gọi là Long Trì. Phía Đông Long Trì dựng điện Văn Minh, phía Tây dựng điện Quảng Vũ. Hai bên phải trái Long Trì đặt lầu chuông đối nhau để dân chúng có việc kêu oan thì đánh chuông. Bốn xung quanh Long Trì đều có hành lang. Phía trước Long Trì có điện Phụng Thiên, bên trên dựng lầu chính dương để tính toán giờ khắc, phía sau làm điện Trường Xuân, bên trên dựng gác Long Đỗ làm nơi nghỉ ngơi du ngoạn. Đầu năm sau dựng thềm điện Thiên Khánh lọt vào giữa điện Thiên An và điện Trường Xuân, bắc cầu phượng hoàng nối các điện này với nhau" (ĐVSKTT). Đến cuối thời Lý, năm 1203, vua Lý Cao Tông lại cho xây dựng thêm nhiều cung điện nữa như điện Thiên Thuỵ, điện Dương Minh, điện Thiềm Quang, điện Chính Nghi... Trong khuôn viên kiến trúc cũ, vua Lý Cao Tông cũng cho xây dựng thêm các kiến trúc như: "... đằng sau mở điện Thắng Thọ, bên trên xây gác Thành Thọ, bên trái xây gác Nhật Kim bên phải xây gác Nguyệt Bảo, xung quanh dựng hành lang, thềm gọi là Kim Tinh. Bên trái Nguyệt Bảo đặt toà Lương Thạch, phía Tây gác xây nhà Dục Đường, phía sau xây gác Phú Quốc, thềm gọi là Phượng Tiên. Phía sau khuôn viên dựng cửa Thấu Viên, ao Dưỡng Ngư, trên ao xây đình Ngoạn Y".
    Tuy nhiên, những năm cuối triều đại nhà Lý, Hoàng thành bị phá huỷ nặng nề do âm mưu xâm lược của nhà Nguyên.
    Nhà Trần kế thừa nhà Lý trong hoà bình nên các toà cung điện, kiến trúc cũ được giữ hầu như nguyên vẹn. Khu vực Hoàng thành bị phá huỷ, nhà Trần đã cho đắp lại thành, xây lại các cung điện nhưng vị trí, quy mô của Hoàng thành vẫn không thay đổi. Điểm khác biệt duy nhất của hai triều đại là triều Trần đã đổi tên gọi khu vực này là Long Phượng Thành.
    Những công trình kiến trúc ban đầu của thành Thăng Long tồn tại 200 năm, đến nay không còn lại một dấu vết nào. Tuy nhiên, với những mô tả trong Đại Việt sử kí toàn thư thì ta có thể hình dung diện mạo của kinh thành xưa gồm hai phần là Hoàng thành và Tử Cấm Thành.
    Hoàng thành nằm trong kinh thành, là khu vực nhà vua ở và làm việc. Hoàng thành có bốn cửa lớn thông ra bốn phía kinh thành là:
    - Cửa Diệu Đức (phía Bắc)
    - Cửa Tương Phù (phía Đông)
    - Cửa Đại Hưng (phía Nam)
    - Cửa Quảng Phúc (phía Tây)
    Hoàng thành luôn được xây dựng quay mặt về hướng Nam theo quan điểm "Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ văn" (Thánh nhân ngồi nhìn về phương Nam nghe thiên hạ tâu bày). Theo các tài liệu cổ, đặc biệt là Kinh Dịch thì phương Nam thuộc quẻ Ly, gắn liền với dương khí nên là vị trí tốt nhất để xây nhà, đặc biệt là các kiến trúc cung đình. Cửa phía Nam luôn là cửa dành cho vua đi. Điều này, ngày nay chúng ta có thể kiểm chứng trong các sách vở, tài liệu cổ cũng như thực tế ở các di tích thành Cổ Loa có ba vòng thành giao tiếp nhau ở mặt Nam và các cung điện trong thành đều hướng ra cửa Nam. Thành Nhà Hồ ở Tây Đô (Thanh Hoá) và kinh thành Huế cũng có kiến trúc và phương hướng tương tự.
    Theo các nhà nghiên cứu về kiến trúc thành Thăng Long thời Lý thì: "Đường trục của tổng thể kiến trúc trong hoàng thành là đường Nam - Bắc chạy xuyên tâm, trên đường trục là những cung điện dành cho vua làm việc ở phía trước (Càn Nguyên, Thiên An, Thiên Thuỵ) gắn với quẻ Càn, với trời; tiếp theo phía sau là những cung điện để cho vua nghỉ ngơi và dạo chơi (Long An, Long Thuỵ, Long Đỗ) luôn khẳng định địa vị cao quý của vua là Rồng. Các công trình khác cứ thành từng cặp xây đăng đối ở hai bên, trong đó bên tả dành cho văn quan mang tính dương (Tập Hiền, Nhật Quang, Văn Minh, Nhật Kim) còn bên trái dành cho võ quan mang tính âm (Giảng Vũ, Quảng Vũ, Thiềm Quang, Nguyệt Bảo). Nơi ở của cung nữ là phía sau gần với nơi diễn ra những sinh hoạt đời thường của vua (Thuý Hoa, Long Thuỵ, Trường Xuân) cũng ở phía sau này về sau còn có hệ thống vườn cảnh. Phía trước điện làm việc của vua là Long Trì là nơi các quan văn võ tâu bàn việc nước với vua. Ở đó, phía trước có lầu theo dõi thiên văn, tính toán giờ khắc để xem điềm trời, tuân mệnh trời, phân chia thời gian cho các hoạt động của xã hội. Hai bên có lầu chuông để dân kêu kiện, có thể vào tận sân rồng đánh cho thấu đến tai vua chứng tỏ một xã hội dân chủ cởi mở.
    Bao quanh hệ thống cung điện là bức tường thành chữ nhật khép kín, mỗi phía trổ một cửa mang những tên có tính cầu phúc cho dân cho nước: cửa Đại Hưng ở phía Nam, cửa Trường Phù ở phía đông, cửa Quảng Phúc ở phía tây, cửa Diệu Đức ở phía Bắc".
    (NNC Phương Anh)


    Phía ngoài Hoàng thành là các khu dân cư với những hoạt động sản xuất, mua bán sầm uất, được chia thành từng khu vực riêng biệt: phía Đông dành cho các hoạt động công thương, phía Tây là khu vực sản xuất nông nghiệp, phía Nam là nơi tập trung tầng lớp quan lại, trí thức. Các bộ phận dân cư như trên gắn bó với nhau thành một tổng thể, tạo cho khu vực kinh đô thành một trung tâm chính trị, văn hoá, kinh tế. Một điều đặc biệt nữa là các vua tiền triều nhà Lý đã ý thức việc gần dân, hiểu dân nên cung Thái tử (đầu tiên là Thái tử Phật Mã) được xây dựng ở ngoài cửa Nam. Điều này giúp người được chọn kế vị ngai vàng trong tương lai có thể tai nghe mắt thấy cuộc sống của người dân, hiểu dân, biết quan tâm đến người dân và sẽ trở thành một vị minh quân sau này.
    Kinh thành được bao bọc bởi bức tường thành lớn là Đại La thành, được đắp bằng đất, vừa để phòng vệ, vừa để ngăn ngừa lũ lụt. Khuôn viên của Đại La thành được xác định như sau:
    - Mặt Đông thành chạy dọc theo hữu ngạn sông Hồng (từ Bến Nứa đến Ô Đống Mác ngày nay).
    - Mặt Bắc dựa theo sông Tô Lịch, phía Nam Hồ Tây cho đến phường Yên Thái (đường Hoàng Hoa Thám ngày nay).
    - Mặt Tây theo tả ngạn sông Tô Lịch từ Yên Thái đến Ô Cầu Giấy.
    - Mặt Nam theo sông Kim Ngưu qua Giảng Võ, Ô Cầu Dền, Ô Chợ Dừa, nối với Ô Đông Mác phía Đông Nam.
    Như vậy, thành Đại La được giới hạn bởi 3 con sông: sông Hồng, sông Tô Lịch và sông Kim Ngưu. Trong quy hoạch tự nhiên ấy, thành là đê, sông là hào. Thành Đại La cũng mở nhiều cửa ra vào, có quân lính tuần tra canh gác.
    Xung quanh kinh thành có các đền thờ, được gọi chung là Thăng Long Tứ Trấn, thờ bốn vị thần ngự từ xa xưa, ngày đêm canh giữ cho kinh thành bình yên và thịnh vượng. Các di tích này được tôn tạo, trùng tu qua các thời kì và tồn tại đến tận ngày nay. Đó là:
    - Đền Bạch Mã thờ thần Long Đỗ, trấn phương Đông.
    - Đền Voi Phục (Thủ Lệ) thờ Linh Lang Đại vương, trấn phương Tây.
    - Đền Trấn Vũ (còn gọi là quán Trấn Vũ hay đền Quán Thánh) thờ Huyền Thiên Trấn Vũ, trấn phương Bắc.
    - Đền đình Kim Liên thờ thần Cao Sơn, trấn phương Nam.
    Ngoài ra, trong và ngoài kinh thành còn có các công trình kiến trúc điểm xuyến thêm cho bộ mặt của trung tâm như Văn Miếu - Quốc tử giám, đền Đồng Cổ,tháp Báo Thiên, chùa Một Cột...
    Thời Hậu Lê
    Hai triều đại Lý - Trần đã xây dựng kinh thành, tạo nền mống cho các kiến trúc cũng như tiền đề cho sự phát triển vượt bậc về kinh tế, văn hoá, chính trị của vùng. Sau bao biến thiên, đặc biệt là hai lần chống quân Tống, ba lần chống quân Nguyên Mông, kinh thành Thăng Long đã xác định được thế "trung tâm của trời đất", là nơi các triều đại vững nghiệp đế vương của mình.
    Thế nhưng, cuối thời Trần, nhà Hồ chiếm ngôi, tạo thuận lợi cho quân Minh tìm cớ xâm lược nước ta. Năm 1407, quân Minh lấy cớ phù Trần diệt Hồ đã đem quân sang xâm chiếm Đại Việt. Nước nhà bắt đầu bước vào cuộc chiến chống quân xâm lược 20 năm.
    Bản đồ Thăng Long thời Hồng Đức (1490)


    Năm 1427, sau khi chiến thắng giặc Minh, Lê Lợi lên ngôi, lấy hiệu là Lê Thái Tổ, vẫn đóng đô ở Thăng Long, nhưng đổi tên là Đông Đô, rồi sau đó đổi thành Đông Kinh (1430). Về cơ bản, Đông Đô thời Lê không khác nhiều so với kiến trúc thời Lý - Trần, chỉ có điều các cung điện, đền đài đã bị phá hỏng rất nhiều, cần được sửa chữa. Vào giai đoạn Lê sơ này, Hoàng thành nhiều lần được sửa chữa, tu bổ và mở rộng. Điện Kính Thiên dựng năm 1428, xây lại năm 1465 với lan can bằng đá, chạm rồng năm 1467, nay vẫn còn trong thành Hà Nội. Năm Hồng Đức thứ 21 (1490), vua Lê Thánh Tông định bản đồ cả nước gồm 13 thừa tuyên và phủ Trung Đô tức thành Đông Kinh thời Lê sơ. Tập Bản đồ Hồng Đức còn lại đến nay đã qua nhiều lần sao chép lại về sau, nhưng vẫn là tập bản đồ xưa nhất của nước Đại Việt, trong đó có bản đồ thành Đông Kinh. Qua bản đồ này, có thể hình dung được qui mô và cấu trúc của Hoàng Thành và Cấm Thành của thành Thăng Long thế kỷ XV cùng một số cung điện đương thời.
    Từ năm 1490 đến thế kỉ thứ XVI, kinh thành có nhiều thay đổi. Trong thời gian này, Hoàng thành được mở rộng. Năm 1490, Lê Thánh Tông cho xây lại Hoàng thành mở rộng thêm 8 dặm, công việc xây dựng trong 8 tháng mới hoàn thành. Bên trong Hoàng thành, nhà vua cũng cho xây thêm cung điện và lập vườn Thượng Lâm để nuôi thú. Năm 1512, Lê Tương Dực cho khởi công xây dựng Cửu Trùng Đài theo bản thiết kế của Vũ Như Tô. Đây là một công trình kiến trúc lộng lẫy, hoành tráng, mỹ lệ. Rất tiếc là công trình đã bị kiêu binh nổi loạn, phá huỷ khi chưa hoàn thành. Năm 1514, Lê Tương Dực cũng đã cho mở rộng Hoàng thành, bao bọc cả khu vực điện Tường Giang, quán Trấn Vũ, chùa Kim Cổ Thiên Hoa.
    Từ năm 1516 - 1527, nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê, kinh thành Thăng Long chìm trong loạn lạc, các công trình kiến trúc bị phá huỷ, thiêu đốt, tàn phá nhiều lần. Đến nửa cuối thế kỉ XVI, hình thành cục diện Nam - Bắc triều. Liên minh Lê - Trịnh dần chiếm được ưu thế. Nhà Mạc phải rời bỏ kinh thành đi lánh nạn. Đến năm 1585, Mạc Mậu Hợp quyết định trở về Thăng Long, mở đợt xây dựng lại kinh thành với quy mô rất lớn. Đây là lần cuối cùng kinh thành Thăng Long được xây dựng với quy mô lớn. Năm 1599, Trịnh Tùng đuổi được nhà Mạc lên Cao Bằng, tiếp quản Thăng Long. Hoàng hành được tu sửa lại để đón vua Lê.
    Sau khi cục diện vua Lê - chúa Trịnh được hình thành, các cung điện mới chủ yếu được xây dựng trong phủ Chúa. Hoàng thành bị bỏ hoang phế, không sửa chữa hay xây mới. Nhiều công trình kiến trúc trở nên hư hỏng và xuống cấp.
    Thời Tây Sơn - Nguyễn
    Năm 1788, Lê Chiêu Thống cầu viện nhà Thanh mang 29 vạn quân sang chiếm Thăng Long. Sau đó, để trả thù, Lê Chiêu Thống đã cho đốt cháy tất cả các công trình kiến trúc, đền đài, dinh thự liên quan đến chúa Trịnh ở Thăng Long. Kinh thành một lần nữa bị phá huỷ. Đầu năm 1789, Quang Trung ra Bắc, tiêu diệt quân Thanh, Lê Chiêu Thống chạy sang triều đình nhà Thanh lánh nạn, kết thúc triều đại nhà Lê kéo dài 361 năm (gồm thời Lê sơ và Lê Trung Hưng). Quang Trung định đô ở Phú Xuân, Thăng Long chỉ là Bắc thành. Năm 1802, sau khi tiêu diệt nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi, lập nên nhà Nguyễn, kinh đô vẫn đặt ở Phú Xuân. Kinh thành Thăng Long trở nên hoang phế. Mặt khác, những kiến trúc còn sót lại sau trận đại huỷ diệt của Lê Chiêu Thống cũng lần lượt bị các vua Nguyễn chuyển vào Phú Xuân để phục vụ cho việc xây dựng kinh thành mới. Công trình kiến trúc duy nhất được giữ lại là điện Kính Thiên và Hậu Lâu, được sửa chữa dùng làm hành cung cho nhà vua mỗi khi Ngự giá Bắc thành. Năm 1805, vua Gia Long cho phá bỏ tường của Hoàng thành cũ và cho xây dựng thành mới theo kiểu Vauban của Pháp. Thành mới xây dựng có quy mô nhỏ hơn thành cũ rất nhiều. Thành hình vuông, mỗi bề rộng khoảng 1km, xung quanh là hào nước sâu. Bốn bức tường thành tương ứng với bốn phố hiện nay là phố Phan Đình Phùng ở phía Bắc, phố Lý Nam Đế ở phía Đông, phố Trần Phú ở phía Nam, đường Hùng Vương ở phía Tây. Tường thành xây bằng gạch hộp, chân thành xây bằng đá xanh và đá ong. Thành mở ra 5 cửa là: cửa Đông (tương ứng với phố cửa Đông), cửa Tây (tương ứng với phố Bắc Sơn), cửa Bắc (nay vẫn còn), cửa Tây Nam (tương ứng với chợ Cửa Nam hiện nay), cửa Đông Nam (tương ứng với đoạn giao phố Điện Biên Phủ và Nguyễn Thái Học). Đường vào cửa xây vòm xuyên qua tường thành dài 23 m. Trên mỗi cửa có lầu canh gọi là thú lâu. Xung quanh tường thành là một dải đất rộng 6 - 7m, kế tiếp là một con hào rộng 15 - 16m, sâu 5m, thông với sông Tô Lịch và sông Hồng. Phía ngoài các cổng thành có xây một hàng tường đắp liền trên bờ hào gọi là Dương Mã thành. Các Dương Mã thành đều có một cửa bên gọi là Nhân Môn. Từ ngoài thành đi vào đều phải đi qua Nhân Môn rồi mới đến cổng thành.
    Thành Hà Nội - Ảnh tư liệu


    Trung tâm thành Hà Nội là điện Kính Thiên (xây dựng từ thời Lê). Thềm điện có hai đôi rồng đá. Sau này, điện bị người Pháp phá huỷ và xây dựng trụ sở pháo binh Pháp. Phía đông thành là nhiệm sở của Tổng trấn Bắc thành. Phía Tây là kho thóc, kho tiền và dinh Bố chính phụ trách các kho. Năm 1812, kiến trúc Cột cờ Hà Nội được dựng ở phía Nam thành. Năm 1835, vì cho rằng thành Hà Nội cao hơn kinh thành Huế nên vua Minh Mạng đã cho xén bớt 0,5m, thành Hà Nội chỉ còn cao khoảng 5m.
    Năm 1831, vua Minh Mạng đã cho đổi tên thành Thăng Long thành tỉnh Hà Nội.
    Thi hào Nguyễn Du than thở:
    Thiên niên cự thất thành quan đạo
    Nhất phiến tân thành một cố cung.
    Dịch thơ:
    Cung điện ngàn năm thành đường cái
    Một tòa thành mới mất cung xưa.
    Bà Huyện Thanh Quan thì hoài cổ Thăng Long thành:
    Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
    Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
    Năm 1888, nhà Nguyễn nhượng hẳn Hà Nội cho Pháp. Sau khi chiếm toàn bộ Đông Dương, Pháp đã chọn Hà Nội là thủ đô của Liên bang Đông Dương thuộc Pháp. Thành Hà Nội bị phá hoàn toàn để lấy đất làm công sở và trại lính cho người Pháp. Di tích còn sót lại duy nhất, tồn tại đến ngày nay là Cửa Bắc và Cột cờ Hà Nội.
    Lần sửa cuối bởi emcungyeukhoahoc, ngày 27-12-2012 lúc 11:35 AM.
    I am not a scientist. I am, rather, an impresario of scientists.

  4. #4
    Vượt ngàn trùng sóng emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc's Avatar
    Ngay tham gia
    Dec 2008
    Bài viết
    4,187
    Rep Power
    73

    Các di tích tiêu biểu

    Phạm vi di sản thế giới được công nhận là 20 ha (trên tổng số 140 ha của Hoàng thành gồm khu khảo cổ ở số 18 đường Hoàng Diệu và khu vực được giới hạn bởi 4 tuyến đường Điện Biên Phủ, Nguyễn Tri Phương, Phan Đình Phùng và Hoàng Diệu. Các di tích tiêu biểu của khu di tích:

    Khu khảo cổ 18 Hoàng Diệu

    Cột cờ Hà Nội

    Đoan Môn

    Điện Kính Thiên

    Nhà D67

    Hậu Lâu

    Cửa Bắc
    Lần sửa cuối bởi emcungyeukhoahoc, ngày 28-12-2012 lúc 11:18 AM.
    I am not a scientist. I am, rather, an impresario of scientists.

  5. #5
    Vượt ngàn trùng sóng emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc's Avatar
    Ngay tham gia
    Dec 2008
    Bài viết
    4,187
    Rep Power
    73

    Khu khảo cổ 18 Hoàng Diệu

    Di tích này bao gồm tầng dưới cùng là một phần bên phía đông của thành Đại La dưới thời Cao Biền, nhà Đường, tầng trên là cung điện nhà Lý và nhà Trần, tiếp theo là một phần trung tâm của đông cung nhà Lê và trên cùng là một phần của trung tâm tòa thành tỉnh Hà Nội thế kỷ 19.

    Bề mặt Lý-Trần ở tầng hai có rất nhiều hiện vật được phát hiện, như những nền cung điện, có kích thước một chiều hơn 60 mét, chiều kia 27 mét. Có 40 chân cột, rồi cả giếng cổ, gạch, phù điêu. Có tượng rồng, phượng mà được các nhà nghiên cứu mỹ thuật khẳng định là mô típ hoa văn thời Lý. Rồi đến những tầng lớp bên trên, thời Lê, Nguyễn đều tìm được nhiều hiện vật. Tổng cộng là ba triệu hiện vật. Khi tiến hành khai quật ở hố B16 thuộc địa điểm dự kiến xây dựng toà nhà Quốc hội mới, Viện khảo cổ học đã phát hiện một toà lâu đài 3 tầng lầu, 4 mái, dạng hình tháp toạ lạc trên một diện tích xấp xỉ 1000 m2 thuộc hệ thống các cung điện Thăng Long xưa. Theo đánh giá thì đây là công trình đầu tiên, có tầm cỡ và giá trị nhất được tìm thấy từ trước đến nay. Việc phát hiện ra lâu đài này được coi là bằng chứng rõ ràng nhất về sự hoành tráng của kinh thành Thăng Long từ thời Lý-Trần. Mặc dù trước đây các nhà khảo cổ đã đoán định được di chỉ này nằm trong khu vực hoàng thành, thậm chí là cấm thành Thăng Long suốt từ thời Lý, Trần đến Lê nhưng do tiến hành khai quật quá nhanh khiến cho nhiều tầng lớp kiến trúc không thể hiện rõ.


    Giếng nước thời Trần, gạch ghép rất kỹ thuật và kiên cố


    Giai đoạn đầu, tại các hố A1, A1MR, A2, A2MR, A3, A4, A9, A10, A11, A12, A13 trong các lớp đất ở độ sâu trung bình trên dưới – 1,50 m so với “cốt” cao độ của mặt bậc thềm đá Đoan Môn, xuất lộ những ô sỏi trộn lẫn đất sét. Sỏi ở đây khá thống nhất về kích thước, chỉ khoảng bằng hoặc to hơn đầu ngón chân cái, chứng tỏ đã được chọn lọc. Hiện vật thu được trong các lớp đất này được xác định có niên đại thời Lý. Các ô sỏi này thường có hình gần vuông, mỗi cạnh khoảng 1,30 m và ăn sâu xuống các lớp dưới, dày trên dưới 1,00 m. Điều này chứng tỏ đây là các hố đào có chủ đích để đầm - nhồi sỏi cuộn với đất sét. Đáy của các hố sỏi này nằm trong lớp đất chứa các hiện vật được xác định có niên đại Đinh - Tiền Lê.

    Các ô sỏi nói trên xuất hiện trong các hố từ A1 đến A18. Tổng cộng có tất cả 40 ô sỏi, xếp thành 04 hàng dọc (hai hàng phía đông có 10 ô trong một hàng, hai hàng phía tây mỗi hàng chỉ có 09 ô). Có lẽ đây chính lá các hố sỏi gia cố dưới các chân tảng đá kê dưới chân các cột. Nói chính xác, theo ngôn ngữ kiến trúc – xây dựng, đó là các móng trụ. Kết quả đo đạc đã giúp khẳng định đây là phế tích của một kiến trúc có bộ khung chịu lực bằng gỗ có 04 hàng chân cột. Khoảng cách giữa các cột Quân với các cột Cái là khoảng 3,00 m. Khoảng cách giữa các cột Cái là khoảng 6,00 m. Từ Bắc xuống Nam đã xác định được 10 vì, nghĩa là ít nhất kiến trúc này có 09 gian. Tuy nhiên, chưa thể khẳng định về số gian bởi dấu vết của kiến trúc này còn phát triển kéo dài về phía Bắc, ngoài khu vực khai quật. Bước gian của kiến trúc này rất lớn, khoảng 5,80 m – 6,00 m. Trên thực tế, bước gian của các di tích kiến trúc bằng gỗ cổ truyền hiện còn đứng vững trên mặt đất thường nhỏ hơn.

    Chưa lý giải được nguyên nhân của sự chênh lệch về số lượng các móng trụ của các hàng móng trụ phía Tây nhưng ở đây chắc chắn đã có 04 móng trụ sỏi gia cố cho 01 chân tảng cột Cái và 03 chân tảng cột Quân. Khoảng cách giữa hai hàng móng trụ sỏi cuối cùng chỉ là 4,1 m chứng tỏ đây chính là không gian của chái phía Nam. Cách tim của các móng trụ gia cố chân tảng cột Quân phía Đông khoảng 4,5 m và chạy dài suốt chiều rộng của “toà nhà nhiều gian” nói trên còn thấy xuất lộ một cống thoát nước được xây-xếp bằng gạch (hoàn toàn không thấy dấu vết của chất kết dính dạng vôi vữa), lòng cống rộng 0,17 m – sâu 0,20 m. Ngoài lớp gạch đặt nằm làm đáy, hai bên thành của rãnh thoát nước này được xếp nghiêng hai lớp gạch. Kích thước trung bình của gạch ở đây là 0,36 m x 0,20 m x 0,05 m). Về phía Đông, sát cạnh cống thoát nước này là một thềm gạch rộng 0,76 m chạy dọc suốt chiều dài đường cống. Gạch lát thềm là gạch vuông 0, 38m x 0,38 m x 0,07m. Có chỗ còn lát lẫn cả gạch in hoa.


    Một phần của khu di tích 18 Hoàng Diệu.


    Cách tim của các móng trụ gia cố chân tảng cột Quân phía tây khoảng 2, 5m cũng xuất lộ một cống thoát nước khác. Dấu vết của cống phía tây bị đứt quãng ở góc Tây Nam “toà nhà nhiều gian”, khu vực bị mất 04 móng trụ gia cố chân tảng. Gạch xây-xếp cống thoát nước này là loại chuyên dụng, được sản xuất chỉ để dùng làm cống-rãnh. Các viên dùng lát đáy có mặt cắt hình thang cân. Những viên dựng hai bên thành có hình bình hành. Với hình dáng đặc biệt như vậy nên chỉ cần đào rãnh, đặt các viên gạch chuyên dụng này xuống là thành cống. Cách tim của các hố sỏi gia cố chân tảng cột Quân phía nam khoảng 4,5 m lại cũng xuất lộ một đoạn cống xây xếp bằng gạch chuyên dụng tương tự. Các đoạn cống xây xếp bằng gạch chuyên dụng phía tây và phía nam “toà nhà nhiều gian” nếu còn nguyên vẹn sẽ “bắt” vuông góc chái Tây Nam. Các đường cống này chính là các rãnh thoát nước mưa của “toà nhà nhiều gian”. Các cống này đều không có nắp để có thể hứng nước mưa rơi thẳng xuống từ hàng ngói lợp cuối cùng của mái. Nghĩa là các rãnh thoát nước mưa này chính là giới hạn của mặt bằng mái. Nói cách khác, số đo giữa các rãnh thoát nước này cho biết về chiều rộng và chiều dài của công trình kiến trúc. Khoảng cách từ tim rãnh thoát nước phía Tây đến tim rãnh thoát nước phía Đông là 17,65 m. Đó chính là kích thước chiều rộng của “toà nhà nhiều gian” này. Chiều dài của kiến trúc này hiện chưa khẳng định được. Nhưng nếu giả định “toà nhà nhiều gian” có 09 gian thì kích thước này sẽ là khoảng 67 m. Theo số đo, phế tích này cho thấy một công trình kiến trúc to lớn theo đúng nghĩa đen. Tuy nhiên chưa thể xác định công năng của kiến trúc này. Chỉ biết rằng “toà nhà nhiều gian” này chạy dài theo trục Bắc – Nam, mở cửa ra cả hai hướng Đông và Tây.
    Về phía Tây của toà nhà nhiều gian, cách tim các móng trụ sỏi gia cố hàng chân tảng cột Quân phía tây 4, 90m, đã tìm thấy những móng trụ gia cố chân tảng khác. Vật liệu gia cố có phần đa dạng hơn, ngoài sỏi (tương tự như sỏi ở các hố đã nêu trên) còn có cả ngói vỡ vụn, được nhồi đầm theo chu kỳ 1 lớp sỏi lại 1 lớp ngói vụn. Hình dạng của các hố đào cũng khác, có hố tròn (đường kính từ 1,10 m đến 1,30 m), có hố vuông (1,20 m x 1,20 m). Bố cục của các móng trụ chân tảng này khá đặc biệt: 06 trụ móng tròn quây quanh một số trụ móng ở chính giữa. Khoảng cách trung bình giữa tim của các móng trụ tròn là khoảng 1,30 m. Tim móng trụ vuông trùng với tâm của đường tròn ngoại tiếp hình lục giác, cách tim các móng trụ tròn một khoảng 1,30 m.

    Các cụm móng trụ gia cố chân tảng này trải dài suốt mặt phía tây của toà nhà nhiều gian. Khoảng cách giữa các cụm (đếm được tất cả 11 cụm), không thật đều, xê xích từ 8 m đến 12 m. Theo các nhà khảo cổ, một cụm móng trụ gia cố chân tảng như vậy là phế tích của một kiểu lầu lục giác nhỏ, được dựng nhằm phục vụ nhu cầu thưởng ngoạn. Theo GS. Trần Quốc Vượng, Việt Sử lược có ghi nhận về loại hình kiến trúc này, gọi là các Trà đình. Trong các hố A19, A20, A20MR và A21 cũng xuất lộ nhiều móng trụ sỏi.

    Ngay gần chái phía Nam của toà nhà nhiều gian thuộc phạm vi hố A19 có một số móng chân tảng nhưng kết quả đo đạc không xác định được thật rõ ràng về kiến trúc từng tồn tại ở đây. Phía Bắc hố A20 xuất lộ hai hàng móng trụ sỏi gia cố, mỗi hàng 05 móng trụ, khoảng cách giữa tim hai hàng là 3,40 m. Hiện trạng và số đo cho phép giả định đây là một kiến trúc có hướng chạy dài theo trục Đông - Tây (vuông góc với toà nhà nhiều gian). Số đo bước gian đo được của kiến trúc này theo chiều từ Đông sang Tây là: 3,30m - 5,45m - 5,30m. Các khoảng cách khác chưa khẳng định được vì một số móng trụ sỏi đã bị mất và vì kiến trúc này còn tiếp tục kéo dài về phía Đông, ra ngoài khu vực khai quật. Các nhà khảo cổ cho rằng đây có lẽ là phế tích của một toà nhà có 3 gian hai chái. Ở phía Nam hố A20 đã xuất lộ một cụm phế tích rõ ràng hơn.
    Khác với các phế tích vừa mô tả, cụm phế tích này còn cả chân tảng đá đặt nguyên vị trí (in situ) trên hố gia cố. Thực tế này đã khẳng định chính xác về công năng của các hố sỏi. Hố gia cố chân tảng ở đây hình vuông (1,30 m x 1,30 m). Vật liệu gia cố hỗn hợp cả sỏi nhỏ, gạch, đá vụn. Tất cả còn 09 chân tảng, xếp hàng 04 hàng. Theo trục Đông - Tây, các chân tảng cách đều nhau một khoảng 5,75 m.
    Các chân tảng đều được làm bằng sa thạch (grès) màu xám. Mặt chân tảng chạm cánh sen mang phong cách nghệ thuật Lý. Đường kính trong của vành hoa sen này là 0,49 m. Trên mặt nhiều chân tảng còn rất rõ dấu vết cho biết cột gỗ dựng trên đó có đường kính 0,43m. Tuy nhiên ở vị trí sẽ đặt xà ngưỡng, mặt tảng để trơn, không chạm cánh sen. Nối dài hai bên (đông, tây) một số chân tảng cũng còn giữ nguyên một số viên gạch (0,38m x 0,15 m x 0,11 m) của hàng gạch đỡ dưới xà ngưỡng. Với dấu vết của các xà ngưỡng này cho thấy có lẽ đây là hai kiến trúc dạng hành lang, chạy dài theo Đông - Tây. Đặc biệt, cụm phế tích này còn giữ nguyên vẹn một số đoạn thềm hiên lát gạch ở phía ngoài xà ngưỡng, rộng trên dưới 1, 00m tính từ tim chân tảng. Thềm gạch này được xây xếp bởi 8 hàng gạch (0,39 m x 0,20m x 0,05 m) cao hơn mặt sân 0,36 m. Sân gạch chạy giữa hai hành lang này được lát gạch vuông (0,38 m x 0,38m x 0,06 m). Theo các nhận định ban đầu cho rằng các phế tích kiến trúc ở phía Bắc khu A là của một tổ hợp kiến trúc có liên quan mật thiết với nhau, bao gồm: một tòa nhà nhiều gian có chiều rộng 17,65 m, chạy dài ít nhất 09 gian (khoảng 67 m) và một dãy các lầu lục giác. Điều đáng quan tâm là sự liên hệ, tiếp nối giữa các kiến trúc này. Hiện trường còn rất rõ một số mảng nền lát gạch vuông (0,38 m x 0,38m x 0,08 m), nối liền từ mép rãnh thoát nước phía Tây tòa nhà nhiều gian với các lầu lục giác.
    Chiều rộng của nền gạch này đo được 2,60 m. Nhiều viên gạch vuông của nền gạch nói trên đã được cắt chéo để lát sát vào hàng gạch chữ nhật (0, 39 m x 0,18 m x 0,06 m) xây nghiêng bao quanh mặt nền của lầu lục giác.

    Gạch làm bằng đất nung trang trí hoa cúc


    Căn cứ vào dấu vết của nền lát gạch vuông này, các nhà khảo cổ nhận định khả năng tòa nhà nhiều gian và các lầu lục giác có cùng một niên đại khởi dựng.
    Về niên đại: Để định niên đại cho các dấu tích kiến trúc đã xác định ở khu A, các nhà khảo cổ dùng phương án đối chiếu và so sánh tổng hợp, kết hợp với việc phân tích địa tầng. Trước hết các nhà khảo cổ tập trung vào các trụ móng sỏi có chuẩn niên đại tương đối. Như đã trình bày, ở khu A20 còn có 8 trụ móng sỏi còn nguyên chân tảng đá xếp tại chỗ. Các chân tảng đều bằng đá cát, các cánh sen thon thả, trau chuốt, đẹp tương tự như chân tảng đá hoa sen thời Lý ở tháp Tường Long (Hải Phòng) năm 1057, tháp Chương Sơn (Nam Định)... Chiều rộng của nền gạch này đo được 2, 60m. Nhiều viên gạch vuông của nền gạch nói trên đã được cắt chéo để lát sát vào hàng gạch chữ nhật (0,39 m x 0,18 m x 0,06 m) xây nghiêng bao quanh mặt nền của lầu lục giác.

    Đồng thời tại khu vực hố A20 có khá nhiều các di vật lá đề và gốm sứ thời Lý. Các loại gạch có thềm hiên nhà đều còn nguyên vẹn và dáng hình, sắc màu đều giống hệt như các viên gạch xây các tháp Lý vừa dẫn. Từ các dẫn liệu trên đây chúng tôi tin rằng đây là dấu tích kiến trúc của thời Lý. Niên đại này được củng cố khi so sánh mặt bằng của hai kiến trúc này là tương đương với địa tầng chuẩn Lý - Trần ở Đoan Môn đều ở độ sâu khoảng 2 m. Khi đó có các móng trụ có niên đại tương đối ta có thể so sánh tìm hiểu niên đại của các móng trụ khác. Ta sẽ thấy, móng trụ sỏi ở kiến trúc nhiều gian, ở lầu lục giác giống hệt về kỹ thuật, vật liệu, kích thước với các trụ móng sỏi Lý ở khu A20.

    Về địa tầng các trụ móng đó cùng độ sâu 1,80 m - 2,20 m với các kiến trúc ở A20, tức là đều nằm trong khoảng niên đại khoảng thời Lý. Hơn nữa xét về mặt kỹ thuật xây dựng, các móng trụ ở đây cũng đều thuộc kỹ thuật của thời Lý và thời Trần. Trong thời Lý, kỹ thuật gia cố sỏi đặc biệt thấy rõ ở chùa Lạng (Hưng Yên), tháp Chương Sơn (Nam Định), tháp Phổ Minh (Nam Định).

    Các trụ móng sỏi ở thời Lý thường được gia cố rất chặt chẽ. Điều này khác với các trụ móng sỏi thời muộn hơn (có thể là thời Lê), có gia cố sỏi nhưng sơ sài hơn rất nhiều và ở độ sâu cao hơn. Nói cách khác các trụ móng sỏi Lê nằm ở mặt bằng cao hơn mặt bằng Lý - Trần. Hơn nữa, như đã nói trên, phủ trên mặt bằng của khu vực của các trụ móng thời Lý là một lớp di vật có niên đại Lý nên có thế tin rằng hầu hết các trụ móng ở đây đều thuộc thời Lý. Điều này còn được khẳng định thêm khi phát hiện một hồ nước cổ hình chữ nhật phía Nam khu kiến trúc nhiều gian bị lấp đầy vật liệu Lý, Trần. Điều này chứng tỏ hồ nước này đã bị lấp trong thời Trần. Hồ nước này đả phá vào móng kiến trúc lầu lục giác và một phần móng trụ của 'kiến trúc nhiều gian. Các nhà khảo cổ cho rằng hồ này được đào vào đầu thời Trần và bỏ đi vào khoảng cuối thời Trần. Do đó ta cũng thấy các trụ móng sỏi đã xuất lộ ở cùng mặt bằng đều thuộc thời Lý.
    Kiến trúc cổ truyền Việt là các công trình có hệ chịu lực bằng khung gỗ, với cấu kiện cơ bản là hệ thống cột. Vì vậy, người Việt chỉ chú trọng gia cố nền mà không cần đến móng. Sức nặng của công trình được phân tán qua hệ cột nên chân các cột đá được gia cố bằng các chân tảng đá có kích thước lớn gấp nhiều lần đường kính cột. Hiện trạng khảo cổ học (tầng văn hoá, hiện vật) và kết quả khảo sát địa chất khu vực này cho phép khẳng định có một dòng chảy cổ (theo hướng Bắc - Nam) ở phía Tây các phế tích nói trên. Nền đất tự nhiên chịu tải kém nên các công trình kiến trúc ở đây đều có hệ thống hố gia cố chân tảng. Đây là một thành tựu, một tiến bộ kỹ thuật của người Việt trong xây dựng. Với khảo cổ học kiến trúc (hay khảo cổ học đô thị), các phế tích nói trên còn cung cấp những hiểu biết mới, có tính chất lý thuyết về việc gia cố chân tảng, về cách thức xác định kích thước - quy mô của một kiến trúc qua các dấu vết của phế tích. Kỹ thuật này đã được thấy ở cố đô Hoa Lư thời Đinh - Tiền Lê. Ở kỹ thuật xây trụ móng được thực hiện bằng các móng bè bằng gỗ lim cao 5 lớp kết hợp với lớp móng trụ đá ở bên trên. Đến thời Lý và thời Trần, kỹ thuật này bây giờ xử lý hoàn toàn bằng sỏi và gạch vụn, sành vụn. Móng trụ bằng sỏi thời Lý và thời Trần có quy mô và chắc chắn nhất trong lịch sử kiến trúc Việt Nam.

    Các phế tích kiến trúc ở khu A còn cần được nghiên cứu kỹ hơn. Kiến giải của các nhà khảo cổ về một số phế tích chỉ là những nhận định ban đầu. Tuy chưa thể khẳng định về quy mô và công năng của tất cả các công trình nhưng rõ ràng các phế tích này cho thấy một quần thể kiến trúc toà ngang dãy dọc khá phong phú. Dung mạo của một bộ phận Hoàng Thành Thăng Long xưa đã hiển hiện qua dấu vết vật chất chứ không chỉ là hình ảnh của sách vở, chữ nghĩa. Cùng những phát hiện quan trọng về các dấu tích kiến trúc, một số lượng lớn đồ gốm sứ là những vật dụng dùng hàng ngày trong Hoàng cung qua nhiều thời kỳ cũng được tìm thấy. Những khám phá này đã thực sự mở ra một cánh cửa mới cho việc nghiên cứu về gốm Thăng Long và gốm dùng trong Hoàng cung Thăng Long qua các triều đại.
    I am not a scientist. I am, rather, an impresario of scientists.

  6. #6
    Vượt ngàn trùng sóng emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc's Avatar
    Ngay tham gia
    Dec 2008
    Bài viết
    4,187
    Rep Power
    73

    Cột cờ Hà Nội

    Cột cờ Hà Nội là di tích được xây dựng năm 1812 dưới triều Gia Long cùng lúc xây thành Hà Nội theo kiểu Vô-băng (Vauban). Cột cờ cao 60 m, gồm có chân đế, thân cột và vọng canh. Chân đế hình vuông chiếm một diện tích là 2007 m² và gồm 3 cấp thóp dần lên. Mỗi cấp đều có tường hoa với hoa văn bao quanh. Từ mặt đất lên tới chân cấp thứ 2 phải leo 18 bậc tại mặt phía Đông và mặt phía Tây. Muốn từ cấp 2 lên cấp 3 cũng phải leo 18 bậc ở hai cửa hướng Đông và Tây. Còn cấp thứ 3 có 4 cửa Đông, Tây, Nam, Bắc (với các tên "Nghênh húc" (Đón ánh nắng ban mai), "Hồi quang" (ánh nắng phản chiếu), "Hướng Minh" (hướng về ánh sáng)…) và từ cạnh dưới lên tới cạnh trên phải qua tới 14 bậc cầu thang.




    Cột cờ Hà Nội xưa




    Cột cờ Hà Nội nay


    Miêu tả chi tiết

    Các tầng đế hình chóp vuông cụt, nhỏ dần, chồng lên nhau, xung quanh xây ốp gạch.
    • Tầng 1: Mỗi chiều 42,5 m; cao 3,1 m
    • Tầng 2: Mỗi chiều 27 m; cao 3,7 m; có 4 cửa, trừ cửa Bắc, 3 cửa còn lại đều có đắp 2 chữ tuỳ theo từng hướng:
      • Cửa Đông - Nghênh Húc (đón nắng ban mai)
      • Cửa Nam - Hướng Minh (hướng về ánh sáng)
      • Cửa Tây - Hồi Quang (ánh sáng phản hồi)
    • Tầng 3: Mỗi chiều 12,8 m; cao 5,1 m
    Từ tầng 1 đến tầng 3 đều có cầu thang xoắn dẫn lên.
    Trên tầng 3 là thân cột Cờ hình trụ có 8 cạnh thon dần lên phía trên, mỗi cạnh 2,13 m với thân cao 18,2 m. Trụ hình thang xoáy trôn ốc gồm 54 bậc; được rọi sáng (và thông hơi) bằng 39 ô cửa sổ hình hoa thị và 6 ô cửa sổ hình dẻ quạt. Những ô cửa này được đặt dọc các cạnh, mỗi cạnh có tới 5 hoặc 6 cửa sổ.
    Đỉnh cột cờ được cấu tạo thành một cái lầu hình bát giác, cao 3,3 m có 8 cửa sổ tương ứng 8 cạnh. Giữa lầu là một trụ tròn, đường kính 0,4 m và cao đến đỉnh lầu, là chỗ để cắm cán cờ (cao 8 m).
    Toàn phần xây từ đế đến trụ này cao 33,4 m gồm 3 tầng đế cao 12 m, cột cao 18,2 m, lầu 3,3 m. Nếu kể cả trụ treo cờ thì trên 40 m.
    Khi người Pháp phá thành Hà Nội, họ định phá luôn cột cờ, may mắn là họ không tiến hành việc này, lý do vì họ muốn biến nó thành đài xem đua ngựa.
    Hiện Cột cờ Hà Nội nằm trong khuôn viên của Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam (trước đây là Bảo tàng Quân đội), trên đường Điện Biên Phủ, quận Ba Đình.


    Nhân dân có bài thơ mô tả về Cột cờ Hà Nội:


    Kỳ đài năm thước vút trời cao
    Thông đạt trong tâm có đường vào
    Trong sáng muôn nơi dồn cả lại
    Trung tâm thiên hạ đẹp biết bao!
    I am not a scientist. I am, rather, an impresario of scientists.

  7. #7
    Vượt ngàn trùng sóng emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc's Avatar
    Ngay tham gia
    Dec 2008
    Bài viết
    4,187
    Rep Power
    73

    Đoan Môn

    Đoan môn – cửa thành lưu dấu gót rồng

    Đoan môn là một trong năm công trình trên mặt đất của Hoàng thành còn được lưu giữ cho đến hôm nay. Đây là cổng thành phía Nam của Cấm thành, mở ra Hoàng thành, là nơi qua lại của nhà vua, người thân của vua, các quan lại mỗi khi vào chầu vua...
    Đoan môn gồm năm cửa - trong đó có một cửa chính, hai cửa phụ, hai cửa ngách - và ba tầng lầu. Ngay tại khu vực Đoan môn, giới khảo cổ Việt Nam mới phát hiện con đường “thần đạo” nối giữa công trình này với điện Kính Thiên và Kỳ đài. Điều này cho thấy tầm quan trọng của công trình này trong hệ thống kiến trúc Hoàng thành xưa...

    Đoan môn có ba tầng. Tầng một là năm cửa thành. Cửa chính giữa dành cho vua, các cửa bên dành cho các quan.

    Phía trên cổng chính từ ngoài có tấm bảng bằng đá ghi hai chữ Hán: “Đoan môn”. Tấm bảng đá này có từ thời Lý.

    Cửa chính, các cửa phụ và cửa ngách được xây cuốn vòm, vừa chắc chắn, vừa có giá trị thẩm mỹ cao.

    Phần lớn Đoan môn được xây bằng đá vồ – loại vật liệu có sức bền đáng kinh ngạc.

    Kỳ đài nhìn từ cửa chính Đoan môn. Đường thẳng được lập giữa Kỳ đài – Đoan môn và điện Kính Thiên là trục thần đạo. Đây là đường thẳng chia Hoàng thành làm hai mảng kiến trúc cân đối – lối xây dựng điển hình của Hoàng cung thời phong kiến.

    Hai cửa ngách hai bên được xây theo hình chữ L – minh chứng cho tính tương xứng hai bên của “trục thần đạo”.


    Mặt trong Đoan môn được thiết kế hình chữ U. “Trục thần đạo” đi qua cửa chính, hai cửa phụ và hai cửa ngách hình chữ L đối xứng hai bên.

    Cầu thang xây gạch dẫn lối lên lầu 2. Đây là lối dành cho quan quân thủ thành lên lầu thực hiện nhiệm vụ canh gác cho Cấm thành, cũng là lối vua lên thành uỷ lạo binh sĩ.


    Tầng lầu thứ hai có hệ thống cửa phía trong và phía ngoài phong phú, chia tầng lầu thành nhiều khoang nhỏ. Trước đây, tầng lầu này có mái xếp chéo rất duyên dáng, làm nổi bật hai tầng mái cong bên trên.

    Tầng lầu thứ hai có khuôn viên rất rộng hai bên, được trang trí bằng những ô đất trồng thảm cỏ, cây xanh...

    Thậm chí, cả những cây hoa đại cổ thụ cũng xuất hiện trên tầng lầu thứ hai. Điều này cho thấy bề mặt thành được gia cố hết sức công phu.

    Hệ thống cửa trong tầng lầu thứ hai được thiết kế theo hình lục giác, khác biệt hoàn toàn với lối cửa cuốn tò vò phía trước và hai bên cánh gà.


    Phía trên cửa chính giữa tầng lầu thứ hai được đắp nổi ba chữ Hán: “Ngũ môn lầu”, nghĩa là “Lầu năm cửa”. Bởi vậy, nhiều người vẫn gọi Đoan môn là “Ngũ môn lầu”.

    Tầng lầu thứ ba trổ cửa vòm ba hướng, mái lợp hai tầng tám mái, bốn góc mái tầng hai được trang trí bằng rồng cuốn. Những công trình dành cho nhà vua thường được trang trí bằng hình tượng rồng cuốn như thế này.


    Trên tầng lầu thứ ba đặt một ban thờ nhỏ.

    Đoan môn ẩn hiện dưới rợp bóng cây cổ thụ, càng làm nổi bật vẻ rêu phong, cổ kính của công trình này.

    Đoan Môn - tính tiếp nối trong một công trình cổ

    Sau khi được công nhận là Di sản Văn hóa thế giới, sắp tới, khu vực Trung tâm Hoàng thành Thăng Long sẽ được mở cửa cho công chúng chiêm ngưỡng. Để giúp du khách thuận tiện hơn trong quá trình tham quan, Cổng TTĐT Chính phủ xin giới thiệu loạt bài về các những di sản hiện hữu trong khu vực Trung tâm Hoàng thành. Căn cứ vào vật liệu xây dựng và phong cách kiến trúc hiện còn của di tích, có thể khẳng định Đoan Môn được xây dựng từ đầu thời Lê và được tu bổ, sửa sang ở thời Nguyễn.

    Đoan Môn nhìn từ Sân vận động Cột Cờ - Ảnh: Chinhphu.vn
    Kiến trúc cổ xưa
    Tầng dưới cùng của Đoan Môn được xây theo lối tường thành cổ với 5 cổng thành được dựng cuốn vòm cân xứng gần như tuyệt đối qua “trục thần đạo”, hay còn được gọi là “trục chính tâm” của Hoàng thành.
    Kiến trúc cuốn vòm ở các cổng thành không chỉ mang lại những đường cong duyên dáng, mà còn có kết cấu chịu lực cực tốt. Cho đến ngày nay, những công trình đường hầm hiện đại nhất, kỳ vĩ nhất trên thế giới cũng vẫn sử dụng lối kiến trúc này.
    Cổng chính giữa là nơi nhà vua xuất giá mỗi khi có việc kinh lý hoặc vi hành thăm thú nhân gian. Phía trên cổng chính giữa còn lưu giữ được tấm biển đá ghi 2 chữ Hán “Đoan Môn” được một số học giả xác định có từ thời Lý.
    Mỗi cổng thành ở đây đều được cuốn vòm bằng gạch vồ và đá tảng, ghè đẽo hết sức công phu. Những viên gạch vồ và đá tảng này xếp chồng khít với nhau tới mức một sợi tóc cũng khó bề lọt qua. Khắp bề mặt tường thành từ ngoài vào trong đều được xếp phẳng tới mức đáng kinh ngạc. Tất cả những điều ấy cho thấy trình độ cao của phường thợ xây thành Thăng Long thuở trước.
    3 cổng thành chính giữa vạch thành 3 đường hầm thẳng song song với “trục thần đạo”. Trong khi đó, 2 đường hầm ngách ở 2 bên được xây theo hình chữ L úp vào nhau.
    Lối xây dựng 5 cổng thành như miêu tả ở trên không chỉ mang ý nghĩa “hội tụ” về triều đình, mà còn giúp đoàn quân hộ giá nhà vua triển khai đội ngũ tề chỉnh hơn.
    Trên hết, nếu nhìn từ trên cao sẽ thấy, lối xây dựng ấy mang lại khối kiến trúc cổng thành hình chữ U xoay hướng chầu về triều đình với thế đứng cực kỳ vững chãi.
    Các cánh cổng thành được dựng từ những phiến gỗ lim nguyên khối dày gần bằng một gang tay người lớn. Những cánh cửa đồ sộ được lắp chạy trên một hệ thống bánh xe lớn và chắc chắn bằng gỗ có bịt thép xung quanh và cột xoay được lắp đặt vào những cối kê bằng đá nguyên khối đục lỗ tạo thành.
    Do không phải là cửa treo nên hệ thống cửa thành ở đây được bảo vệ bằng hệ thống chốt ngang-chốt dưới y hệt cấu trúc cửa nhà cổ.
    Hai bên cửa thành, ở phía trong, có 2 lỗ then bằng đá hình vuông gắn trực tiếp vào tường thành, kích thước mỗi cạnh khoảng 20cm. Khi đóng cửa thành, người ta sẽ dùng một thanh gỗ lớn chẹn ngang qua hai lỗ then này.
    Những tảng đá ở giữa, phía dưới cánh cửa thành cũng được đục những lỗ tròn lớn. Đây có lẽ là dấu vết của lỗ then cửa dọc theo mô tuýp then cửa nhà của người Việt Nam mà ta vẫn gặp trong các công trình nhà ở hiện nay.

    Đoan Môn nhìn từ phía sau - Ảnh: Chinhphu.vn
    Kiến trúc phục dựng của đời sau
    Tầng lầu thứ 2 được xây dựng theo lối vọng canh với hệ thống cửa trổ đều các hướng. Tuy nhiên, kiến trúc này đã được cải tạo lại và hình dáng của nó đã có nhiều đổi khác so với ban đầu.
    Trên cửa chính giữa của tầng lầu thứ 2 có đắp nổi 3 chữ Hán “Ngũ môn lầu”. Chính vì 3 chữ Hán này mà nhiều người vẫn quen gọi Đoan Môn là Ngũ môn lầu.
    Mặt sàn của tầng lầu thứ 2 rất rộng rãi. Khoảng không gian ấy không những đủ để sử dụng Ngũ môn lầu làm nhà ở mà còn thoải mái rộng để tạo nên những khoảng sân thoáng đãng.
    Trên khoảng sân ấy, người ta đổ đất, trồng cỏ và những cây đại cổ thụ thân cỡ một vòng tay người lớn. Sự xuất hiện của những cây đại cổ thụ trên sân tầng lầu thứ hai cho thấy bề mặt thành Thăng Long xưa kia được gia cố rất chắc chắn. Khoảng sân và tầng lầu rộng rãi ấy chính là nơi nhà vua ngự giá để úy lạo binh sỹ trước khi xuất trận; đón tướng sỹ thắng trận trở về hay xem biểu diễn võ nghệ, trò chơi dân gian phía dưới.
    Nếu như lối dẫn lên tầng 2 là 2 cầu thang gạch lộ thiên rộng lớn, thì lối dẫn lên tầng lầu thứ 3 lại là một cầu thang nhỏ được dựng tương đối kín đáo ở bên trong.
    Cũng giống tầng lầu thứ 2, tầng lầu thứ 3 được phục dựng lại sau này và kiến trúc cũng có nhiều thay đổi so với nguyên bản. Tuy nhiên các nét kiến trúc chính cổ xưa vẫn được trân trọng giữ gìn.
    Tầng lầu thứ 3 được dựng theo lối vọng lâu nóc 2 tầng 8 mái, các góc mái được trang trí bằng hình tượng rồng cuốn.
    Nhìn từ sân vận động Cột cờ cũ, Đoan Môn nổi bật với 3 tầng lầu uy nghi, tráng lệ. Là một trong những cổng chính dẫn lối vào Cấm thành, quy mô hoành tráng của Đoan Môn đủ để khiến người xem hình dung được Cấm thành xưa kia nguy nga tới nhường nào.

    (Chinhphu.vn)
    I am not a scientist. I am, rather, an impresario of scientists.

  8. #8
    Vượt ngàn trùng sóng emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc's Avatar
    Ngay tham gia
    Dec 2008
    Bài viết
    4,187
    Rep Power
    73

    Điện Kính Thiên – trung tâm nội thành Thăng Long

    Điện Kính Thiên - cung điện quan trọng bậc nhất, nơi cử hành các nghi lễ long trọng nhất của triều đình, nơi đón tiếp sứ giả nước ngoài và là nơi thiết triều bàn những việc quốc gia đại sự.
    Lính Pháp chụp ảnh bên thềm điện Kính Thiên trong thời gian đồn trú tại đây (Ảnh trên do bác sĩ Charles - Edouard Hocquard chụp giai đoạn 1884 -1885)
    Theo dòng lịch sử
    Theo “Đại Việt Sử ký toàn thư”, điện Kính Thiên được xây dựng năm 1428 đời Vua Lê Thái Tổ và hoàn thiện vào đời Vua Lê Thánh Tông. Điện Kính Thiên được xây dựng trên núi Nùng, ngay trên nền cũ của cung Càn Nguyên - Thiên An thời Lý, Trần.
    Lấy Càn Nguyên đặt tên cho điện coi chầu, Lý Thái Tổ đã chọn đúng trung tâm của trời đất đặt ngai vàng để trị nước. Sau các vua nhà Lý, các vua nhà Trần, nhà Lê đã cho xây dựng hệ thống thành lũy tại đây. Khu vực quan trọng là Cấm Thành (hay Long Thành, Long Phượng Thành) trong thành Thăng Long thời Lý – Trần – Lê. Trung tâm là điện Càn Nguyên, Thiên An thời Lý – Trần, điện Kính Thiên thời Lê.
    Từ năm 1788, khi Vua Quang Trung đóng đô ở Phú Xuân – Huế và sau đó nhà Nguyễn (1802 – 1945 ) cũng định đô tại đây thì thành Thăng Long trở thành trụ sở của Trấn Bắc Thành.
    Năm 1805, Vua Gia Long cho xây dựng khu vực này làm hành cung để vua sử dụng mỗi khi các vua nhà Nguyễn “Bắc tuần”. Tên “Thành cổ Hà Nội” xuất hiện từ năm 1831, khi Vua Minh Mạng thực hiện cuộc cải cách hành chính lớn, thành lập các tỉnh trên cả nước, trong đó có tỉnh Hà Nội, Thành Hà Nội là trụ sở của tỉnh Hà Nội.
    Thời Pháp thuộc, vào cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp phá bỏ hành cung Kính Thiên và xây dựng trụ sở chỉ huy pháo binh tại đây. Ngôi nhà này được gọi là nhà Con Rồng (hay còn gọi là Long Trì), do phía trước và sau đều có rồng đá chầu.
    Sau ngày 10/10/1954, khi quân ta vào tiếp quản Thủ đô, khu vực này trở thành nơi làm việc của Bộ Quốc phòng.
    Năm 2004, Bộ Quốc phòng bàn giao lại một phần diện tích khu vực trung tâm (trục chính tâm) Thành cổ Thăng Long – Hà Nội cho UBND thành phố Hà Nội quản lý.
    Kiến trúc
    Điện Kính Thiên là di tích trung tâm, là hạt nhân chính trong tổng thể các địa danh lịch sử của Thành cổ Hà Nội. Trước điện Kính Thiên là Đoan Môn rồi tới Cột cờ Hà Nội, phía sau có Hậu Lâu, Cửa Bắc, hai phía đông và tây có tường bao và mở cửa nhỏ. Các cửa này đã được nhà nước bảo hộ Pháp liệt hạng từ năm 1925 cùng với một số di tích khác ở thành cổ.
    Điện Kính Thiên là công trình trung tâm của hoàng cung thời nhà Lê (thế kỉ XV - XVIII) ở Thăng Long - Đông Kinh (Hà Nội). Năm 1428, sau chiến thắng quân Minh, Lê Thái Tổ tiếp tục đóng đô tại Thăng Long, cho xây dựng sửa sang lại hoàng thành bị hư hại. Điện Kính Thiên được xây dựng trong thời kì này. Đến 1886, điện bị phá huỷ, hiện chỉ còn di tích thềm bậc và nền điện (trong khu Thành cổ Hà Nội ngày nay).

    Năm 1886, quân Pháp đã xây dựng một toà nhà 2 tầng ngay trên chính nền điện Kính Thiên để làm Bộ Chỉ huy Pháo binh.
    Quan sát kiến trúc điện Kính Thiên qua các bức ảnh do người Pháp chụp cuối thế kỷ XIX, chúng ta có thể thấy Điện Kính Thiên là một kiến trúc gỗ gồm 2 nếp hình chữ Nhị (二). Nhà làm kiểu chồng diêm 2 tầng 8 mái với các góc đao cong. Bờ nóc của cả hai nếp nhà đều đắp nổi đôi rồng chầu mặt trời. Quanh điện có sân rộng được xây lan can bao cả 4 phía.
    Dấu tích điện Kính Thiên hiện nay chỉ còn là khu nền cũ. Nền điện dài 57 m, rộng 41,5 m, cao 2,3 m và thềm bậc xây bằng đá xanh tạo thành ba lối vào. Phía nam nền điện còn có hàng lan can cao hơn 100 cm. Mặt trước, hướng chính nam của điện Kính Thiên là thềm điện xây bằng những phiến đá hộp lớn gồm 10 bậc có 4 rồng đá chia thành 3 lối lên đều nhau tạo thành Thềm Rồng. Thềm bậc có kích thước: ngang 13,7 m, dọc 4,45 m, cao 2,1m với đôi rồng đá khắc chạm năm 1467 là những bộ phận điêu khắc bằng đá còn tương đối nguyên vẹn.
    Rồng đá điện Kính Thiên là một di sản kiến trúc nghệ thuật tuyệt tác, tiêu biểu cho nghệ thuật điêu khắc thời Lê sơ. Được chạm trổ bằng đá xanh, rồng đá có đầu nhô cao, đầu to, mắt tròn lồi, sừng dài có nhánh, bờm lượn ra sau. Thân rồng uốn lượn mềm mại thành nhiều vòng cung, nhỏ dần về phía nền điện, trên lưng có đường vây dài nhấp nhô như vân mây, tia lửa.
    Phía bắc của nền Điện Kính Thiên còn có một thềm 7 bậc lên xuống nhỏ hơn so với bậc thềm chính ở phía nam. Hai bên bậc thềm có 2 rồng đá mang niên đại Lê Trung Hưng (thế kỷ XVII-XVIII ), rồng dài 3,4m; uốn 7 khúc, thân có vẩy, lưng như hàng vây cá, chân rồng 5 móng… Hai bên lan can trang trí hoa sen, sóng nước, đao, lửa, vân mây…
    Nền và thềm bậc điện là di tích ít ỏi trong kiến trúc hoàng cung thời Lê còn sót lại đến ngày nay, phần nào phản ánh được quy mô hoành tráng của điện Kính Thiên xưa.

    Ngày nay, không gian nơi này đã trở thành một di tích “kép” cho cả hai thời đại: Điện Kính Thiên của Hoàng thành Thăng Long xưa và Bộ Tổng Chỉ huy Quân đội nhân dân Việt Nam- di tích lịch sử quan trọng của lịch sử hiện đại Việt Nam.
    Tháng 10/2004, khi chính thức mở cửa đón du khách, khu vực Thành cổ - Điện Kính Thiên đã trở thành một trong những điểm tham quan cực kỳ hấp dẫn khách du lịch.
    Tuấn Linh
    (
    Chinhphu.vn)

    I am not a scientist. I am, rather, an impresario of scientists.

  9. #9
    Vượt ngàn trùng sóng emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc's Avatar
    Ngay tham gia
    Dec 2008
    Bài viết
    4,187
    Rep Power
    73

    Nhà D67

    Từ Tổng hành dinh - Nhà D67 Khu A Bộ quốc phòng, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đã đưa ra những quyết định lịch sử đánh dấu những mốc son của cách mạng Việt Nam. Đó là: Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968 Cuộc Tổng tiến công năm 1972 Đánh thắng hai cuộc chiến của Mỹ mà đỉnh cao là 12 ngày đêm cuối năm 1972. Tổng tiến công năm 1975, đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh.

    Phòng họp Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương trong hầm ngầm D67

    Khu hầm lớn nhất nằm dưới khoảng sân nối giữa điện Kính Thiên và nhà D67 dành cho Bộ Chính trị và Quân ủy trung ương gọi là hầm D67. Hai đường dẫn xuống hầm bắt nguồn từ hai phòng làm việc của tướng Giáp và tướng Dũng trong nhà D67, đường hầm rộng 1, 2m, có 45 bậc thang bêtông, trát đá granite. Đi sâu xuống 10m là hệ thống văn phòng của tổng hành dinh ngầm gồm bốn phòng rộng 50m2, chung một hành lang bên phải. Phòng họp hình chữ nhật toàn khối, nền lát gạch, có một cửa ra vào. Các phòng bên dành cho ban thư ký và phòng để máy móc, điện đài. Cuối cùng là phòng chứa hệ thống thông hơi, lọc khí đồ sộ chạy điện được chế tạo tại Liên Xô. Các lối lên xuống của hai đường hầm và cửa ra vào có tới sáu cửa thép sơn xanh dày 12 cm, có nhiều tay nắm và hệ thống gioăng cao su có thể ngăn nước và khí độc.
    Toàn bộ hệ thống hầm ngầm đều liên hoàn đường điện máy phát. Hệ thống thông tin, liên lạc, hậu cần, lương thực… đều đầy đủ. Đầu ra của hai cửa hầm này dẫn lên phòng làm việc của hai đại tướng tại nhà con rồng. Ngoài hệ thống hầm ngầm này, khu A thành cổ còn nhiều hệ thống hầm ngầm khác. Riêng những bộ phận đã được bàn giao cho ban quản lý thành cổ là bốn khu hầm. Ngoài hầm của Bộ Chính trị vừa nói còn có hầm trước cửa nhà “con rồng” (dưới nền điện Kính Thiên), hầm gần khu làm việc của Cục Tác chiến và hầm của Ban cơ yếu có qui mô nhỏ hẹp, đơn giản hơn nhưng cũng chống được bom và tên lửa hạng nặng.

    Thượng tướng Lê Ngọc Hiền cho biết: những năm 1965- 1966 Mỹ bắn phá miền Bắc, Bộ Tổng tham mưu lập kế hoạch bảo đảm an toàn cho cơ quan đầu não tại thành cổ với ba mức: báo động, xuống hầm và di tản. Hệ thống hầm ngầm sẽ được sử dụng ở mức báo động 2. Ông kể: "Nhiệm vụ thiết kế, xây dựng nhà, hầm được giao cho Bộ tư lệnh Công binh. Một số bộ phận như máy thông hơi, lọc khí, cửa sắt, điện đài… được nhập khẩu từ Liên Xô. Khoảng 300 cán bộ từ nhiều trung đoàn chuyên môn được huy động đào, xây hầm."
    Hằng đêm, vào giờ giới nghiêm, thắp điện làm việc trong sự canh phòng cẩn mật. Hệ thống nhà, hầm được xây dựng sáu tháng thì hoàn tất. Bộ Chính trị, Quân ủy trung ương dời địa điểm làm việc từ nhà “con rồng” xuống nhà D67. Thời kỳ Mỹ ném bom thỉnh thoảng Bộ Chính trị mới phải làm việc dưới hầm ngầm.
    Tại hầm ngầm dành riêng cho Cục Tác chiến trong thành cổ Hà Nội hôm nay vẫn còn rất nhiều máy điện thoại thời chiến.

    theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
    I am not a scientist. I am, rather, an impresario of scientists.

  10. #10
    Vượt ngàn trùng sóng emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc's Avatar
    Ngay tham gia
    Dec 2008
    Bài viết
    4,187
    Rep Power
    73

    Hậu Lâu - Lầu các công chúa

    Hậu Lâu còn được gọi là Tĩnh Bắc Lâu hay Lầu các công chúa, được xây dựng từ sau đời Hậu Lê, là nơi ở và sinh hoạt của hoàng hậu và công chúa.
    Công trình được xây bằng gạch, phía dưới hình hộp, trên là công trình kiến trúc ba tầng. Lầu dưới có ba tầng mái, lầu trên là hai tầng mái. Phần mái phỏng theo kiến trúc cổ truyền Việt Nam kiểu mái chồng diêm, có các đầu đao nhưng toàn bộ mái là kết cấu gạch và bê tông, trên đắp ngoài giả ngói.
    Đến thời Nguyễn, Hậu Lâu vẫn được giữ làm nơi ở của các cung tần, mỹ nữ đi theo nhà vua mỗi chuyến công du Bắc Hà.

    Hậu Lâu là toà lầu có ba tầng (ảnh chụp từ hướng Tây Nam).

    Phía sau và phía trước toà lầu được thiết kế gần như giống nhau (Ảnh chụp từ hướng Tây Bắc)́.

    Hai lối vào Hậu Lâu được thiết kế đối xứng nhau theo trục Bắc – Nam (ảnh chụp từ hướng Đông Nam).

    Lối dẫn vào hành lang bên hữu. Đối xứng bên kia là lối vào hành lang bên tả. Ngách ngoài cùng là cầu thang dẫn lên tầng 2, tiếp đến là một phòng rộng. Trong cùng là hành lang kín dẫn vào phòng giữa và sang hành lang bên tả.

    Phòng và hành lang không có tường ngăn cách, có lẽ xưa kia được ngăn cách bằng hệ thống rèm lụa.

    Hành lang kín phía sau nối giữa hai bên tả hữu, ở giữa là lối vào phòng kín nhất.


    Cầu thang dẫn lên tầng hai. Đối xứng bên kia là một cầu thang tương tự.

    Cầu thang dẫn lên tầng ba chỉ vừa đủ cho một người đi.


    Tầng hai cũng có ba phòng. Phòng giữa có bốn mái hiên cách điệu. Hai phòng bên được xây theo lối hai tầng tám mái.

    Tầng ba chỉ có một phòng, được thiết kế theo lối hai tầng tám mái. Các mái được lợp ngói ống, vuốt cong các góc bằng hình tượng đầu phượng duyên dáng.

    Một góc mái gian bên của tầng lầu thứ hai.


    Mái hiên cong duyên dáng nhìn từ tầng ba.

    Khung cảnh thơ mộng nhìn từ tầng lầu thứ hai.


    Hoa nở quanh năm bên Lầu Công chúa.

    Lầu Công chúa được thiết kế cân xứng gần như tuyệt đối. Lầu được dựng trên một dải đất cao, xung quanh có nhiều cây xanh.
    (Chinhphu.vn)
    I am not a scientist. I am, rather, an impresario of scientists.

+ Trả lời Chủ đề
Trang 1 của 2 1 2 CuốiCuối

Các Chủ đề tương tự

  1. Imiss Thăng Long
    Bởi emcungyeukhoahoc trong diễn đàn Thời trang - Làm đẹp
    Trả lời: 3
    Bài viết cuối: 30-11-2012, 01:08 PM
  2. 10 chiếc đồng hồ trở thành thắng cảnh
    Bởi gau meo trong diễn đàn Những điều kỳ thú
    Trả lời: 0
    Bài viết cuối: 11-10-2012, 09:31 AM
  3. Lộng lẫy mùa vàng ở Hoàng Su Phì
    Bởi tbngoc trong diễn đàn Tin tức & sự kiện du lịch
    Trả lời: 0
    Bài viết cuối: 06-09-2012, 09:01 AM
  4. Hầm bí mật dưới Hoàng thành Thăng Long
    Bởi trucmai trong diễn đàn Công trình, di tích
    Trả lời: 0
    Bài viết cuối: 30-06-2012, 08:36 AM
  5. Múa dân gian vùng Thăng Long-Đông Đô-Hà Nội
    Bởi yuri trong diễn đàn Nghệ thuật truyền thống
    Trả lời: 0
    Bài viết cuối: 11-06-2012, 05:21 PM
Quyền viết bài
  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình