Tỉnh Vĩnh Phúc hiện không còn văn miếu, nhưng văn bia về văn từ phủ Tam Đới dựng vào thời Lê ghi chép văn miếu Tam Đới (Vĩnh Tường) chính là tiền thân của văn miếu hàng tỉnh của Vĩnh Yên về sau.
Ban đầu, văn miếu thuộc cấp phủ nhưng trải qua các thời kỳ lịch sử, nền văn miếu cấp phủ đã không còn thích hợp với địa danh hành chính mới được phân cấp theo tỉnh, huyện dựa trên cải cách hành chính của triều đình nhà Nguyễn dưới triều vua Minh Mạng.
Nhằm kế thừa và phát huy truyền thống của văn miếu xưa nên chính quyền sở tại đã cho di chuyển văn miếu cũ về Vĩnh Yên.
Văn bia văn miếu Vĩnh Yên được khắc vào mùa đông năm Kỷ Dậu niên hiệu Cảnh Trị thứ 7(1669) đời vua Lê Huyền Tông.
Bia được chạm khắc tinh xảo với hoạ tiết hoa văn theo mô típ lưỡng long chầu nguyệt trên trán bia. Móng vuốt của rồng dài và chắc, đuôi rồng uốn lượn trên đầu. Phía dưới rồng là một cặp phượng trong tư thế sinh động. Hai bên diềm bia khắc hình chim đậu trên cành hoa, mỗi con một tư thế khác nhau. Đáy bia chạm khắc hoa sen, đài sen và hoa lá, hoạ tiết hoa văn trang trí trên bia là điển hình của phong cách bia thế kỷ 17.
Theo nội dung văn bia mặt thứ nhất, Trị sở của phủ Tam Đới đặt ở xã Cao Xá, huyện Bạch Hạc. Phía Tây của xã Cao Xá có văn miếu của phủ đặt tại đó. Văn miếu phủ Tam Đới toạ lạc tại một vị trí rất đặc biệt, phía trước có sông bao bọc, phía sau có núi cao che chở, bên trái có chùa và gần nơi họp chợ, bên phải cây cỏ hoa lá tươi tốt um tùm, bốn mùa hoa nở.
Tuy di chỉ vẫn còn nghi lễ phụng thờ không dứt nhưng quy mô còn nhỏ hẹp, vì thế Tri phủ Tam Đới là Nguyễn Duy Chí cùng với ông Phương Hữu Luân và các lễ môn khác đã trùng tu Thánh miếu, dựng nghi môn. Công việc tiến hành từ tháng 10 năm Đinh Mùi đến tiết đông tháng 12 thì hoàn thành.
Mặt thứ hai của văn bia ghi tên họ và số tiền của những người đóng góp để trùng tu văn miếu. Trong số 72 người tham gia đóng góp có 5 phụ nữ.
Phòng văn hoá huyện Vĩnh Tường hiện còn bảo quản quả chuông có trọng lượng khoảng 30 kg, cao 70 cm, đường kính miệng 35 cm, thân chuông chia làm 4 khuông lớn, mỗi khuông cao 35cm, rộng 23 cm. Dưới mỗi khuông lớn là một khuông nhỏ, hình chữ nhật, dài 22 cm, rộng 7 cm.
Khuông lớn thứ nhất khắc nổi chữ Vĩnh, dạng đại tự trong một vòng tròn, dưới đó khắc 14 dòng chữ nhỏ, khuông nhỏ khắc 18 dòng. Khuông lớn thứ 2 khắc chữ Tường và 18 dòng chữ nhỏ, khuông nhỏ khắc 18 dòng. Khuông lớn thứ 3 khắc 2 chữ văn miếu và 16 dòng chữ nhỏ, khuông nhỏ khắc 16 dòng. Khuông lớn thứ 4 khắc chữ chung và 18 dòng chữ nhỏ, khuông nhỏ khắc 17 dòng. Tổng cộng có khoảng 4.000 chữ Hán, chữ khắc nông, nhiều đoạn bị mờ mòn.
Khi ghép các khuông với nhau, chuông mang tiêu đề Vĩnh Tường văn miếu chung (chuông của văn miếu phủ Vĩnh Tường).
Bài minh khắc trên chuông đề ngày mồng 4 tháng 3 niên hiệu Thiệu Trị thứ nhất (1841) ca ngợi công lao của các vị tiên hiền đối với sự nghiệp giáo dục, mở mang kiến thức cho người dân và quá trình đúc chuông đúc khánh của văn miếu phủ Tam Đới do hội Văn thuộc và Võ thuộc của bản phủ thực hiện.
Do chuông cũ bị hỏng nên người dân đia phương cùng đóng góp tiền của đúc chuông mới cho văn miếu phủ Vĩnh Tường. Phần kế tiếp là họ tên của 40 người công đức đúc chuông, trên chuông còn khắc các thửa ruộng của văn miếu phủ Vĩnh Tường do mọi người cung tiến tại các xứ sở thuộc địa bàn trong phủ.
Văn miếu Phủ Vĩnh Tường đặt ở xã Cao Xá, huyện Bạch Hạc là sự kế thừa từ văn miếu hàng phủ của phủ Tam Đới.
Viện nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội hiện còn lưu trữ 2 văn bia là Vĩnh Tường tế điền ký (bia ghi ruộng tế của văn miếu phủ Vĩnh Tường) gồm 2 mặt, khổ 93 x 52 cm. Bia trang trí hoa văn và khắc chữ Hán ở mặt trước và mặt sau là 47 dòng, khoảng 3.000 chữ nhưng nhiều đoạn đã mờ mòn.
Bia dựng ngày 12 tháng 8 niên hiệu Thiệu Trị thứ nhất (1841), ghi nhận văn miếu phủ Vĩnh Tường không chỉ thờ Khổng Tử, Tứ phối mà còn thờ phụ người đỗ đại khoa và trung khoa của phủ. Văn bia kê danh sách khoảng 60 hội viên và phần ruộng của văn miếu dùng vào tế tự.
Mặt sau bia ghi điều lệ của Văn thuộc và Võ thuộc thuộc bản phủ, qui định áp dụng với người nhận canh tác ruộng của văn miếu.
Bia thứ hai là Tu tập Từ vũ ký (bia ghi việc tu sửa Từ vũ), gồm 2 mặt, khổ 46 x 72 cm, trang trí hoa văn, khắc 63 dòng chữ Hán ở hai mặt, tổng cộng khoảng 2.000 chữ. Bia cũng bị mờ mòn nên mất nhiều chữ. Căn cứ vào dòng niên đại thì bia được dựng ngày 18 tháng 7 năm Thiệu Trị thứ 3 (1843). Bài văn có nội dung là văn miếu phủ Vĩnh Tường trải lâu năm bị hư hại, các vị Văn thuộc và Võ thuộc của phủ bàn bạc, đứng ra tu sửa.
Văn từ phủ Tam Đới ghi rõ trong văn bia: Chính điện 5 gian, cột xà sơn son lộng lẫy. Tiền đường 3 gian chạm lộng. Hai bên hai gian dải vũ, cùng một cây cầu mới 7 gian. Chính điện, tiền đường trong ngoài đều lợp ngói. Trước sau khuôn viên đều xây tường bao. Nghi môn trước ở gần bờ nước, nay chuyển vào gần đường, tu sửa thêm. Hai cửa trang trí hình rồng, lại tạo tượng Thánh hiền, làm thêm tòa Thập triết. Lại tái tạo một biển văn đề ba chữ đại tự là Văn miếu điện. Biển được sơn son, chữ được dát vàng, treo ở gian giữa tòa tiền đường.
Phủ Tam Đới được thành lập vào năm Quang Thuận thứ 10 (1469) đời Lê Thánh Tông, bao gồm 6 huyện: Bạch Hạc, Yên Lạc, Yên Lãng, Phù Khang, Lập Thạch và Tân Phong.
Văn miếu phủ Tam Đới đã trải qua hai lần trùng tu vào giữa thế kỷ 17 và đầu thế kỷ 18. Năm Chính Hòa thứ 23 (1702), văn miếu được tu bổ hoàn hảo. Năm 1822, khi tên phủ Tam Đới không còn tồn tại, văn miếu Tam Đới được bàn giao cho phủ Vĩnh Tường quản lý.
Văn miếu của phủ Vĩnh Tường đặt tại xã Cao Xá huyện Bạch Hạc là sự tiếp nhận từ văn miếu hàng phủ của phủ Tam Đới thời Lê. Năm 1890, văn miếu phủ Vĩnh Tường được chuyển về xã Định Trung huyện Tam Dương, trở thành văn miếu của tỉnh Vĩnh Yên.