Trạng nguyên Nguyễn Hiền (阮賢) đời Trần Thái Tông (陳太宗) là trạng nguyên trẻ nhất nước ta trong lịch sử khoa cử Việt Nam. Ông sinh ra từ một vùng quê nghèo tại làng Dương Miện, huyện Thượng Hiền, phủ Thiên Trường, lộ Sơn Nam (nay là thôn Dương A, xã Nam Thắng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định)
Nguyễn Hiền mồ côi cha từ nhỏ, được mẹ cho theo học sư cụ chùa Hà Dương, làng Dương A. Nguyễn Hiền là cậu bé thông minh dĩnh ngộ, hay chữ, ngay từ tuổi trẻ đã được người đời khen là thần đồng, đỗ đạt rất sớm.
Sách Đại Việt sử ký toàn thư có ghi rằng: Năm Đinh Mùi, đời Trần Thái Tông (1247) vào tháng 2 mùa xuân (nhà vua) mở khoa thi chọn học trò; lấy Nguyễn Hiền đỗ trạng nguyên, Lê Văn Hưu đỗ Bảng nhãn, Đặng Ma La đỗ Thám hoa lang; lấy đỗ Thái học sinh 48 người, cho xuất thân theo thứ bậc khác nhau”. Như vậy, khoa thi năm Đinh Mùi, đỗ Tam khôi đều là những người trẻ tuổi. Trong đó, trạng nguyên Nguyễn Hiền mới 12 tuổi, Bảng nhãn Lê Văn Hưu (黎文休) 17 tuổi, Thám hoa Đặng Ma La (鄧麻羅)14 tuổi.
Theo Gia phả của dòng họ của ông ở Nam Định, cùng một số sách vở khác cho hay: Khi vào thi Đình, vua ra bài phú “Áp tử từ kê mẫu quy hồ” (Vịt con chào gà mẹ để đi về hồ). Văn chương Nguyễn Hiền được đánh giá là hay nhất, nhà vua lấy đỗ Trạng nguyên, bấy giờ trạng mới 12 tuổi.
Về tổ chức khoa cử đời nhà Trần, đây là khoa thứ ba mà cũng là khoa đầu tiên lấy đỗ Tam khôi. Như vậy ông nghiễm nhiên là Tam khôi thứ nhất trong lịch sử thi cử đời Trần mà cũng là người đỗ Trạng nguyên đầu tiên và sớm nhất, trẻ nhất của nền khoa cử nước nhà.
Ông làm quan đến chức Thượng thư, có lúc trông coi Quốc sử quán và mất tại chức.
Sách Đại Nam nhất thống chí đưa tên ông vào mục những nhân vật nổi tiếng của tỉnh Nam Định về thời Trần, sách ghi: Nguyễn Hiền, người Thượng Nguyên (Nam Định). Đời Thiên Ứng – Chính Bình nhà Trần, thi đỗ Trạng nguyên mới 12 tuổi. Vì tuổi còn nhỏ, nên vua Trần cho vinh quy 3 năm rồi sẽ bổ dụng. Sau đó sứ Bắc quốc sang nước ta làm bốn câu thơ để cho nước ta biện là chữ gì. Thơ rằng: “Lưỡng nhật bình đầu nhật, Tứ sơn điên đảo sơn, Lưỡng vương tranh nhất quốc, Tứ khẩu tại trung gian” - 兩日平頭日, 四山顛倒山, 兩王爭一國, 四口在中間 - (Nghĩa là hai chữ “nhật” bằng đầu; ngược xuôi đều là bốn chữ “sơn”; hai chữ “vương” (vua) tranh một nước; bốn chữ “khẩu” ở trong). Cả triều không ai biết được là chữ gì. Nguyễn Hiền phân tích thành chữ “田 - Điền”, sứ Bắc quốc sợ mà phục.
Hai bài văn này sử dụng tài liệu, bản dịch của Nguyễn Ngọc Nhuận trong Thông báo Hán Nôm 2000
Bài 1
Nguyên văn:
聖 上五 馬 儲 靈 , 七 星 醉 粹 。 優 財 優 德 , 七 百 年 。 名 世 之 英 。 先 覺 先 知 , 數 千 載 不 傳 之 秘 。 春 秋 纔屬 於 一 周 , 名 重 已 聞 於 九 陛 。 天 應 三 魁 選 雄 文 大 筆 馳 聘 古 今 。 甲 榜 第 一 名 , 鴈 塔 鰲 頭 輝 煌 姓字 。 超 群 之 才 品 素 優 , 有 用 之 文 章 在 是 。 早 知 青 翠 字 棟 樑 屹 莊 於 南 天 , 立 辨 田 字 詩 , 見 識 驚聞 於 北 地 。 有 大 功 顯 德 於 詩 , 而 國 封 其 寶 位 。 金 榜 贈 加 金 紫 , 世 流 錫 命 之 恩 。 有 功 扶 國 , 有德 布 民 。 上 賢 為 改 上 元 。 國 重 不 名 之 禮 , 名 重 兩 朝 萬 春 藝 苑 流 芳 。 為 英 即 為 靈 , 億 載 國 民 立尊 祀 。 茲 屬 秋 千 慶 諱 , 聊 陳 菲 禮 ,愿 鋻 微 誠 。 賜 之 福 慶 , 花 村 享 詩 書 之 澤 。 文 運 重 享 。 後 學 聯科 甲 之 榮 , 侕 風 振 起 萬 賴 至 德 , 陰 扶 之 力 也 。 謹 告 。
Phiên âm:
Thánh thượng ngũ mã trữ linh, thất tinh tuý tuý. Ưu tài ưu đức, thất bách niên. Danh thế chi anh. Tiên giác tiên tri, số thiên tải bất truyền chi bí. Xuân thu tài thuộc ư nhất chu, danh trọng dĩ văn ư cửu bệ. Thiên ứng tam khôi tuyển hùng văn đại bút trì sính cổ kim. Giáp bảng đệ nhất danh, nhạn tháp ngao đầu huy hoàng tính tự. Siêu quần chi tài phẩm tố ưu, hữu dụng chi văn chương tại thị. Tảo tri thanh thuý tự đông lương ngật trang ư nam thiên, lập biện điền tự thi, kiến chức đốc văn ư Bắc địa. Hữu đại công hiển đức ư thời, nhi quốc phong kỳ bảo lập. Kim bảng tặng gia kim tử, thế lưu tứ mệnh chi ân. Hữu công phò quốc, hữu đức bố dân. Thượng Hiền vi cải Thượng Nguyên. Quốc trọng bất danh chi lễ, danh trọng lưỡng triều vạn xuân nghệ uyển lưu phương. Vi anh tiết vi linh, ức tải quốc dân lập tôn tự. Từ thuộc thu thiên khánh huý, liêu trần phỉ lễ, nguyện giám vi thành. Tứ chi phúc khánh, hoa thôn hưởng thi thư chi trạch. Văn vận trọng hưởng. Hậu học liên khoa giáp chi vinh, nho phong chấn khởi vạn lại chí đức, âm phù chi lực dã. Cẩn cáo.
Dịch nghĩa:
Thánh thượng: Năm ngựa chứa thiêng, Bảy sao tinh tuý. Hơn tài hơn đức, Bảy trăm năm danh thến anh hoa; Trước biết trước hay, Mấy ngàn thuở chẳng truyền cơ bí. Xuân thu đã thuộc nhà Chu; Danh giá được vang lên chín bệ. Trời cho trúng tuyển tam khôi; hùng văn đại bút nổi bật xưa nay; Bảng giáp đứng đầu tên, tháp nhạn đầu ngao, rõ ràng chữ họ. Phẩm giá siêu quần vốn ưu; Văn chương hữu dụng ở đó. Sớm biết chữ “Thanh Thuý”, cột giường cao ngất trời Nam; Biện rõ thơ chữ “Điền”, kiến thức nghe kinh đất Bắc. Có công tỏ đức sáng ở đời, mà nước phong cho địa vị tôn quí. Bảng vàng thêm mũ vàng, đời lưu ơn mệnh cả. Có công phò nước, có đức giúp dân. Thượng Hiền lại đổi Thượng Nguyên; Nước trọng lễ chẳng đặt tên (*); Danh trọng hai triều, muôn năm vườn uyển lưu phương. Là giỏi tức là thiêng, ức thuở quốc dân sùng bái. Nay thuộc tiết thu khánh huý, kính bày lễ mọn, xin chừng lòng thành, ban cho phúc lớn. Thôn xóm được hưởng ơn sách vở, văn vận hanh thông; Hậu học được nối đời khoa giáp vẻ vang, nho phong chấn khởi. Muôn nhờ đức lớn, ra sức âm phù vậy. Cẩn tâu.
* Theo sách Nam Hải dị nhân: Vua thấy người đại tài như thế mà không được thọ, thương tiếc vô cùng. Huyện ông ấy nguyên tên là huyện Thượng Hiền, vua mơi kiêng tên ông ấy, đổi ra gọi là Thượng Nguyên.
Bài 2
Nguyên văn:
先 生江 河 標 異 , 天 地 儲 精 。 得 數 千 載 秘 傳 不 量 , 卓 七 百 年 名 世 之 才 。 文 其 在 上 。 春 秋 才 屬 於 妙 齡, 名 價 先 勝 於; 萬 世 。 田 字 四 句 詩 之 立 辨 , 名 重 兩 朝 。 青 翠 二 簡 字 之 灼 知 明 知 萬里 。 氣 識 素 高 , 詞 章 無 比 。 雄 文 大 筆 馳 聘 古 今 , 鴈 塔 龍 頭 焜 煌 姓 字 。 神 龜 箕 尾 千 秋 , 不 。 。。 於 東 阿 。 氣 作 水 河 瞻 仰 永 遠 於 遠 址 。 上 元 別 號 , 道 高 於 終 古 不 忘 。 祀 典 長 留 之脈 至 今 仰 止 。 茲 因 諱 日 , 慶 逢 尊 壽是 洪 。 大 典 至 誠 仰 達 於 高 明 。 萬 望 有 臨 , 休 物 而 錫 之 純 怙 , 俾 沐 詩 書 之 澤 , 文 運 重 享 , 學 者登 科 甲 之 途 , 侕風 振起 。 萬 賴 至 德 陰 扶 之 力 也 。 謹 告 。 敬 以 。
Phiên âm:
Tiên sinh giang hà tiêu dị, thiên địa trữ tinh. Đắc số thiên tải bí truyền bất lượng, trác thất bách niên danh thế chi tài. Văn kỳ tại thượng. Xuân thu tài cuộc ư diệu linh, danh giá tiên thắng ư vạn thế. Điền tự tứ cú thi chi lập biện, danh trọng lưỡng triều. Thanh thuý nhị giản tự chi chước tri minh tri vạn lý. Khí thức tố cao, từ chương vô tỷ. Hùng văn đại bút trì sính cổ kim, nhạn tháp long đầu côn hoàng tính tự. Thần quy Cơ Vĩ thiên thu, bất … ư đông a. Khí tác thuỷ hà thiêm ngưỡng vĩnh viễn ư di chỉ. Thượng Nguyên biệt hiệu, đạo cao ư chung cổ bất vong. Tự điển trường lưu chi mạch chí kim ngưỡng chỉ. Từ nhân huý nhật, khánh phụng tôn thọ thị hồng. Đại điển chí thành ngưỡng đạt ư cao minh. Vạn vọng hữu lâm, hưu vật nhi tứ chi thuần hộ, tỉ mộc thi thư chi trạch, văn vận trọng hưởng, học giả đăng khoa giáp chi dư, nho phong chấn khởi. Vạn lại chí đức âm phù chi lực dã. Cẩn cáo. Kính dĩ.
Dịch nghĩa:
Tiên sinh, non sông nêu vẻ lạ; trời đất đúc tinh anh. Được vài ngàn thuở bí truyền khôn lượng; trải bảy trăm năm danh thế nổi tài, văn trên hết thẩy. Xuân thu tài thuộc loại cao; danh giá sớm tỏ cho muôn đời. Biện bốn câu thơ chữ “Điền” nhanh chóng, tiếng nổi hai triều; tỏ hai chữ “Thanh Thuý” rõ ràng tên vang muôn dặm. Trí thức vốn cao; từ chương khôn sánh. Hùng văn đại bát, vượt cả xưa nay; tháp nhạn đầu rồng, rỡ ràng chữ họ. Rùa thiêng sao Cơ Vĩ (*), ngàn thu chẳng nát với triều Trần; khí tốt non sông, chiêm ngưỡng mãi còn nơi nền móng. Thượng Nguyên biệt hiệu, đại cao muôn thuở không quên. Điển lễ lâu dài, mạch tốt đến nay kính cẩn. Nay nhân ngày huý, lễ mừng tôn thọ lớn lao; lễ điển chí thành mong đạt tới đấng cao minh; muôn ngóng chiếu lâm, thưởng vật mà ban cho phúc lớn. Khiến kẻ gội ơn sách vở, văn vận hanh thông; người học trò vào đường khoa giáp, nho phong chấn khởi. Muôn nhờ sức âm phù của đức lớn vậy. Cẩn tâu, Kính dâng…
* Sao Cơ Vĩ: Chỉ những người tài giỏi.