Nhà sử học Ngô Sĩ Liên (吳士連) đời Lê Thái Tông (1423-1442) không rõ năm sinh, năm mất, quê xã Chúc Lý, huyện Chương Đức, tỉnh Hà Đông, sau đổi là xã Ngọc Hoà, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây (nay là huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội). Ông từng tham gia trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418 - 1427) chống quân Minh xâm lược.
Ông làm quan dưới ba triều: Lê Thái Tông (1434 - 1442), Lê Nhân Tông (1442 - 1459) và Lê Thánh Tông (1460 - 1497). Ông đỗ tiến sĩ khoa Nhâm Tuất (1442), niên hiệu Đại Bảo thứ 3 đời Lê Thái Tông (1434 - 1442). Đây là khoa thi đầu tiên được triều đình tổ chức lễ xướng danh, yết bảng; các vị tiến sĩ tân khoa được vua ban mũ áo, vào cung dự yến, được ban ngựa quý để đi dạo chơi thăm phố xá kinh kỳ, được vinh quy bái tổ với lễ đón rước rất long trọng. Và sau này, đến đời vua Lê Thánh Tông, họ tên các vị tiến sĩ được khắc vào bia đá, đặt ở Văn Miếu, để noi gương cho muôn đời.
Sau khi thi đỗ, Ngô Sĩ Liên đã từng giữ các chức Đô ngự sử dưới triều Lê Nhân Tông, Lễ bộ Hữu thị lang, Triều liệt đại phu kiêm Quốc Tử Giám Tư nghiệp, kiêm Sử quan tu soạn ở Viện Hàn lâm dưới triều Lê Thánh Tông. Sách Đại Việt lịch triều đăng khoa lục ghi ông thọ khoảng 98 tuổi.
Đại Việt sử ký toàn thư là một di sản văn hóa vô giá của văn hóa dân tộc, được hình thành trên cơ sở đóng góp của nhiều sử gia nổi tiếng trong một thời gian kéo dài hơn 4 thế kỷ (từ cuối thế kỷ XIII đến cuối thế kỷ XVIII). Ngô Sĩ Liên trước sau trong nhiều năm đã gắn bó đời mình với việc viết sử. Với những cống hiến to lớn nói trên, Ngô Sĩ Liên thực sự là một trong những sử gia lỗi lạc nhất của dân tộc.
Vào đời vua Lê Thánh Tông ông làm việc ở Viện Quốc sử. Năm Kỷ Hợi (1479), niên hiệu Hồng Đức thứ 10 đời vua Lê Thánh Tông, ông soạn xong bộ Đại Việt sử kí toàn thư, viết bài tựa và dâng lên vua ngự lãm. Bộ sách gồm 15 quyển chia làm hai phần:
Ngoại kỷ từ Hùng Vương đến năm 938, gồm 5 quyển.
Bản kỷ từ đời Ngô Quyền đến Lê Thái Tổ lên ngôi (939-1428) 10 quyển.
Bài tựa Đại Việt sử ký ngoại kỷ toàn thư cũng do Ngô Sĩ Liên viết, có đoạn nêu rõ: "Trộm nghĩ: may gặp buổi thịnh trị, tự thẹn không chút báo đền, nên không tự nghĩ sức học kém cỏi, lấy hai bộ sách của các bậc tiên hiền làm trước đây, sửa sang lại, thêm vào một quyển Ngoại kỷ, gồm một số quyển, gọi là Đại Việt sử ký toàn thư. Trong bộ sách này, về sự việc, có việc nào trước kia quên sót thì bổ sung vào; về thể lệ có lệ nào chưa thật đúng thì chỉnh lý lại; về văn có chỗ nào chưa ổn thì đổi thay đi; thảng hoặc có việc nào hay việc nào dở có thể làm gương khuyên răn được thì góp thêm ý kiến quê kệch ở dưới... Tuy những lời khen chê ấy chưa có thể làm công luận cho muôn đời về sau nhưng may ra cũng có thể giúp ích phần nào cho việc tra cứu tìm hiểu...".
Đại Việt sử kí toàn thư là một trong vài sử phẩm ra đời sớm nhất trong khoa học lịch sử nước ta. Tác phẩm đã có một chỗ đứng xứng đáng trong thư tịch Việt Nam.
– Đại Việt sử kí toàn thư (15 quyển) Ngô Sĩ Liên biên soạn; sách này lấy hai bộ sử của Lê Văn Hưu và Phan Phu Tiên tham khảo thêm các sách dã sử, biên tập thành sách này; lại thêm vào một quyển Ngoại kỉ, để tên Triệu Vũ đế kỉ, còn 24 điều (phàm lệ) của sách.
Về sách Sử kí toàn thư hay Đại Việt sử kí toàn thư này, kể cả Ngoại kỷ, phần riêng của Ngô Sĩ Liên, sách chép bắt đầu từ đời họ Hồng Bàng̣, qua Thục An Dương Vương trở xuống đến mãi khi người Minh trở về nước. Đó là nội dung bộ sử này ngay sau khi Ngô Sĩ Liên biên soạn xong năm Hồng Đức thứ 10 (1479). Phan Huy Chú không chua gì khác hơn lời Lê Quý Đôn, nhưng có trích lục nguyên văn bài tựa và bài biểu dâng sách của Ngô Sĩ Liên (năm 1479) và cũng chua tiếp sau như Lê Quý Đôn là sách có 24 điều phàm lệ nhưng không ghi lại 24 điều phàm lệ ấy là những gì. Khác với phần lớn các lời bình của Lê Văn Hưu hoặc Phan Phu Tiên, những đoạn bình luận lịch sử của Ngô Sĩ Liên thường dài hơn, do đó cũng thường cặn kẽ hơn, sinh động hơn, nhiều đoạn có thể coi như lời tổng kết cả một giai đoạn lịch sử.
Hiện nay chúng ta, ngoài bộ sử Cương mục triều Nguyễn, còn có được hai bộ sử cũ lớn đã khắc in, một bộ gọi là Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên, một bộ gọi là Đại Việt sử kí tiền biên, do triều Tây Sơn khắc in, bộ nào cũng tập hợp cả các sách sử cũ và các sử viết sau Ngô Sĩ Liên, gồm có nhiều phần.
Riêng bộ Đại Việt sử kí toàn thư, có ba bản in khác nhau, hai bản in trong nước, một bản in ở nước ngoài (Nhật Bản).
a) Sách mộc bản của ta khắc in cuối triều Lê (năm 1697).
b) Sách in bản chữ chì ở Nhật Bản, là sách in lại bản sách của ta (năm 1884).
c) Sách mộc bản do triều Tây Sơn khắc in. Bản này tên đề hơi khác: Đại Việt sử kí tiền biên, chỉ còn đến quyển 10, chép đến hết tiền biên, nhưng trái lại, nội dung có nhiều điểm lại đầy đủ hơn hẳn bản trên.